vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 28/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/.Tuyên bố bị cáo Danh Đ phạm t i “Tr m cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Danh Đ 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2023. 2/.Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án trộm cắp tài sản đối với bị cáo Danh Đa - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/.Tuyên bố bị cáo Danh Đ phạm t i “Tr m cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HD
TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày: 28-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HD - TỈNH BL

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm c

Th m phán - Chủ t a phiên tòa: Bà Trương Hồng Diễm

H i th m nhân dân: Ông Lâm Thái Hiệp và ông Danh On

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện HD.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HD tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tốt, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện HD xét xử sơ th m công khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý số: 27/2023/TLST-HS, ngày 23 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

H và tên: Danh Đ (tên g i khác: không có), sinh năm 1983; tại BL; Nơi cư trú: Ấp Tà Ky, xã NH, huyện HD, tỉnh BL; quốc tịch: Việt Nam; dân t c: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: không; trình đ h c vấn: 5/12; con ông Danh C, sinh năm 1950 và bà Thị T, sinh năm 1957; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Tiền án: 03 tiền án, vào ngày 09/6/2015 bị Tòa án nhân dân huyện HD xử phạt 01 năm 06 tháng tù về t i Tr m cắp tài sản, chấp hành xong ngày 03/9/2016; ngày 22/02/2019 bị Tòa án nhân dân huyện PL xử phạt 07 tháng, 23 ngày tù (bằng thời hạn tạm giam) về t i tr m cắp tài sản chưa được xóa án tích. Vào ngày 10/8/2020 bị TAND huyện HD, tỉnh BL xử phạt 03 năm tù về t i Tr m cắp tài sản, chấp hành xong ngày 10/01/2023, chưa được xóa án tích; Tiền sự: 01 tiền sự, vào ngày 23/4/2018 Trưởng Công an huyện HB, tỉnh BL xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi tr m cắp tài sản. Chưa được coi là chưa bị xử phạt hành chính; Nhân thân:Vào ngày 27/02/2006, bị Tòa án nhân dân huyện HD xử phạt 01 năm từ về t i Tr m cắp tài sản. đã được xóa án tích. Vào ngày 06/12/2010, bị Công an huyện HD xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tr m cắp tài sản, đã chấp hành xong và hết tiền sự. Bị cáo bị tạm từ ngày 31/7/2023 (có mặt).

Bị hại: Anh Trần Văn Ph, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp XD, xã NTL, huyện HD, tỉnh BL

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Danh Đ: Ông Danh C, sinh năm 1950 và bà Thị T, sinh năm 1957; Địa chỉ: ấp TK, xã NH, huyện HD, tỉnh BL. (Ông C có mặt, bà T vắng mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Danh Đ: Bà Huỳnh Nguyễn Hoài Thu – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh BL (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 05/02/2023, anh Trần Văn Ph có để 01 điện thoại di đ ng hiệu Sam sung A13 phía dưới chiếc chiếu, trên giường trong chòi vuông của mình thu c ấp XG, xã NTL, huyện HD, sau đó anh Ph đi ra vuông làm cỏ. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, bị cáo Danh Đ đi ngang chòi vuông của anh Ph thấy trong chòi không có ai nên đi vào tìm tài sản lấy tr m. Bị cáo Danh Đ dùng tay nâng chiếc chiếu trên giường lên thấy có 01 cái điện thoại di đ ng hiệu Sam sung A13 để phía dưới liền lấy tr m và bỏ đi. Sau khi lấy được điện thoại, Bị cáo Danh Đ tháo bỏ đi kính cường lực, ốp lưng và 02 sim điện thoại trong máy anh Ph. Bị cáo Danh Đ mua m t cái ốp lưng và 01 sim điện thoại di đ ng khác gắn vào điện thoại tr m được của anh Ph để sử dụng. Đến khoảng 10 giờ, cùng ngày anh Ph phát hiện mất điện thoại nhưng không trình báo.

Vào khoảng 22 giờ ngày 16/02/2023, Công an xã NH tuần tra phát hiện bị cáo Danh Đ, là người có tiền án mới chấp hành án phạt tù về nhưng không đến cơ quan trình diện, có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở Công an xã NH làm việc. Qua làm việc thấy trên người của bị cáo Danh Đ có 01 điện thoại di đ ng hiệu Samsung A13 nên đấu tranh làm rõ thì bị cáo Danh Đ thừa nhận điện thoại trên lấy tr m ở chòi vuông thu c ấp Xẻo Gừa, xã NTL. Qua xác minh từ các số điện thoại lưu trong máy, xác định được điện thoại bị cáo Danh Đ thừa nhận lấy tr m là của anh Ph mất tr m vào ngày 05/02/2023, sau đó anh Ph đến Công an xã NTL trình báo. Sự việc được chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện HD để giải quyết theo th m quyền.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/BKL-HĐĐGTS ngày 13/3/2023 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện HD kết luận: 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu Samsung A13 màu đen, đã qua sử dụng, có giá trị là 2.496.600 đồng.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 392/2023/KLGĐ ngày 10/10/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây nam b , kết luận:

- Về y h c: Trước, trong và sau thời điểm phạm t i (ngày 05/02/2023) và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách dạng phân liệt (F60.1-IDC10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm phạm t i (ngày 05/02/2023) và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại Công văn số 392.0/PYTT ngày 10/10/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây nam b xác định:

- Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm t i (ngày 05/02/2023) và hiện tại: Đương sự có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra bị cáo Danh Đ đã thành kh n khai báo về hành vi phạm t i của mình, khi thực hiện hành vi bị cáo Danh Đ bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại cáo trạng số: 25/CT – VKSHD ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HD truy tố bị cáo Danh Đ t i “Tr m cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 B luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa có quan điểm không thay đổi so với bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Kiểm sát viên phát biểu đề xuất đường lối giải quyết. Đề nghị H i đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Danh Đ phạm t i “Tr m cắp tài sản”

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm q, s khoản 1 điều 51; khoản 1 Điều 38; B luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Danh Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2023.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét giải quyết.

-Về vật chứng vụ án: Đã xử lý xong nên đề nghị không đề cập xử lý.

-Về án phí hình sự sơ th m: miễn cho bị cáo Danh Đ

Người bào chữa cho bị cáo Danh Đ trình bày quan điểm bào chữa: thống nhất với t i danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Danh Đ. Tuy nhiên, đề nghị H i đồng xét xử xem xét do bị hại không quản lý tốt tài sản nên dẫn đến hành vi phạm t i của bị cáo, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên đề nghị H i đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 B Luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử mức thấp nhất dưới khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự thủ tục quy định tại B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cùng những chứng cứ tài liệu khác được thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo được thể hiện: Mặc dù đã có nhiều tiền án và chưa được xóa án tích nhưng vì đ ng cơ vụ lợi nên vào khoảng 09 giờ ngày 05/02/2023, bị cáo Danh Đ tiếp tục vào chòi vuông của anh Trần Văn Ph ở ấp Xẻo Gừa, xã NTL, huyện HD, tỉnh BL, lén lút lấy tr m 01 điện thoại di đ ng hiệu Samsung A13 của anh Ph để phía dưới chiếc chiếu trải giường. Qua định giá tài sản có giá trị 2.496.600 đồng (Hai triệu, bốn trăm chín mươi sáu ngàn, sáu trăm đồng). Tại phiên Tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận hành vi phạm t i của mình và xin H i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Do đó cáo trạng số 25/CT – VKSHD ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HD truy tố bị cáo Danh Đ phạm t i “Tr m cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 B luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Xét tính chất, mức đ , hành vi phạm t i của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác m t cách trái pháp luật, mà quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo không những gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân không yên tâm lao đ ng sản xuất mà còn gây mất trật tự trị an nơi xảy ra t i phạm. Bị cáo trong lúc thực hiện hành vi phạm t i đã là người thành niên. Tuy trong lúc thực hiện hành vi phạm t i bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nhưng bị cảo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết được tr m cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Là m t thanh niên khỏe mạnh, lẽ ra bị cáo có thể tìm được m t công việc phù hợp để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân nhưng bị cáo bất chấp pháp luật để tr m cắp tài sản, hưởng thụ thành quả lao đ ng của người khác bằng cách vi phạm pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của bị cáo gây ra.

Tuy nhiên, xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Danh Đ là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, có thái đ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải trong quá trình điều tra, truy tố cũng như xét xử. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng cho bị cáo khi H i đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt.

. Xét tình tiết tăng nặng: Không có

. Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo Đ có 03 tiền án, 01 tiền sự về t i tr m cắp tài sản chưa được xóa án tích và chưa được xem là chưa bị xử phạt hành chính, đáng lẽ ra bị cáo phải biết ăn năn, sửa đổi nhưng bị cáo lại bất chấp, coi thường pháp luật tiếp tục lao vào con đường t i phạm, lấy tr m tài sản của người khác để thõa mãn cho nhu cầu cá nhân.

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. H i đồng xét xử xét thấy cần có mức án tù nghiêm khắc, tương ứng với hành vi phạm t i của bị cáo để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, giáo dục cho bị cáo trở thành m t công dân có ích cho xã h i.

Trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét, giải quyết.

Vật chứng vụ án: Bị cáo Danh Đ giao n p 01 điện thoại di đ ng hiệu Samsung A13 màu đen, đã qua sử dụng có ốp lưng bằng nhựa màu đen – trắng, trên ốp lưng có chữ THOM HOUSE HEIRS và 01 sim điện thoại di đ ng, trên sim có 04 dãy số 8401 – 2209 – 9208 – 5261 sim không hoạt đ ng được. Anh Trần Văn Ph giao n p 01 vỏ h p điện thoại di đ ng Samsung A13 và 01 tờ giấy ghi thông tin trả góp. Qua điều tra xác định điện thoại Samsung A13 màu đen, đã qua sử dụng là của Trần Văn Ph nên Cơ quan điều tra đã trả lại cùng vỏ h p cho anh Ph xong, đối với ốp lưng bằng nhựa màu đen – trắng, 01 sim điện thoại di đ ng là của Danh Đ không liên quan vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Danh Đ xong, riêng 01 giấy ghi thông tin trả góp lưu vào hồ sơ vụ án, xét thấy các vật chứng vụ án đã xử lý xong nên không xem xét giải quyết.

Án phí hình sự sơ th m: miễn toàn b án phí cho bị cáo Danh Đ do bị cáo là h nghèo có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã NH và bị cáo có đơn xin miễn án phí.

. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.

. Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo: H i đồng xét xử xét thấy, mặc dù trong lúc thực hiện hành vi phạm t i bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nhưng bị cảo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tuy nhiên bị cáo phạm t i thu c trường hợp nghiêm tr ng, nhân thân bị cáo có nhiều tiền án, tiền sự về t i tr m cắp tài sản hiện chưa được xóa án tích, bị cáo chấp hành xong bản án ngày 10/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện HD, tỉnh BL xử phạt 03 năm tù về t i Tr m cắp tài sản vào ngày 10/01/2023, đến ngày 05/02/2023 thì bị cáo lại tiếp tục phạm t i. Do đó, H i đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về việc áp dụng khoản 3 Điều 54 B Luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử mức thấp nhất dưới khung hình phạt cho bị cáo.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/.Tuyên bố bị cáo Danh Đ phạm t i “Tr m cắp tài sản”

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm q, s khoản 1 điều 51 khoản 1 Điều 38; B luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Danh Đ 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2023.

2/.Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

3/.Về vật chứng vụ án: Không đặt ra xem xét.

4/. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 B luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc h i về án phí và lệ phí Tòa án. Án phí hình sự sơ th m, miễn toàn b cho bị cáo Danh Đ.

Án xử sơ th m, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ