vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 23/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Ánh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Trần Thị Ánh P 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2023. Về trách nhiệm dân sự: Không. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Ánh P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Ánh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần mức hình phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẤT ĐỎ
TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày: 23-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Xuân Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hà

Ông Nguyễn Văn Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2023; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

TRẦN THỊ ÁNH P, sinh năm 1983; tại Bà Rịa Vũng Tàu, HKTT: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; chỗ ở: Sống lang thang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số CCCD/CMND: 273127620, con ông Trần Văn T, sinh năm: 1956 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1958 (Đã chết); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo có chồng Nguyễn Kim T, sinh năm: 1971; bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2010.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 21/3/2022, bị Toà án nhân dân huyện Châu Đức xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 29/9/2022.

Nhân thân:

- Ngày 21/01/2011, bị Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội trộm cắp tài sản.

- Ngày 07/5/2014, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 tháng 22 ngày tù về tội trộm cắp tài sản. Trả tự do tại toà ngày 07/5/2014.

- Ngày 04/6/2015, bị Toà án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

- Ngày 15/12/2016, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 28/8/2017.

- Ngày 14/5/2018, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 09/8/2018.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/01/2023 (Có mặt).

- Bị hại: Bà Lê Đặng T V sinh năm 2001, địa chỉ: ấp P, xã P, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng hơn 13 giờ 30 phút ngày 31/01/2023, Trần Thị Ánh P (sinh năm 1983; HKTT: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: Sống lang thang) đi bộ ngang qua nhà của chị Lê Đặng T V (sinh năm 2001) ở ấp P, xã P, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu thì P hiện bên trong nhà không có ai, cửa cổng mở nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. P lén lút vào trong nhà, lục tìm được 01 ví da trên bàn học ngay cửa ra vào lấy được số tiền 7.450.000 đồng và lấy thêm 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 màu xanh. P bỏ các tài sản vừa lấy được vào túi quần bên trái đang mặc trên người rồi đi ra ngoài. Lúc này chị V đi về P hiện P đứng trước nhà mình nên vào trong nhà kiểm tra và P hiện bị mất tài sản, chị V đuổi theo bắt giữ P cùng tang vật giao cho cơ quan Công an. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ, Trần Thị Ánh P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như vừa nêu trên. Lời khai của P phù hợp với lời khai của bị hại tại các bút lục số 78 đến 82, phù hợp với các vật chứng thu giữ được.

Tang vật, vật chứng thu giữ của vụ án gồm: Công an thu giữ số tiền 7.450.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 màu xanh. (BL 85,86).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 03/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đất Đỏ kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 màu xanh có giá trị còn lại là 1.500.000 đồng”. (BL 24 đến 30).

* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Ngày 01/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã trả lại các tài sản gồm số tiền 7.450.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 màu xanh cho chị Lê Đặng T V. Hiện chị V không yêu cầu P bồi thường về trách nhiệm dân sự (BL 78 đến 84).

Quá trình điều tra, Trần Thị Ánh P đã có tiền án chưa được xoá án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên P có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm. Về tình tiết giảm nhẹ P đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại.

Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 27/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ đã truy tố bị cáo Trần Thị Ánh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thị Ánh P về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Thị Ánh P từ 15 đến 18 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong. Về trách nhiệm dân sự: Không.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt. Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Đất Đỏ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng hơn 13 giờ 30 phút ngày 31/01/2023, tại nhà của chị Lê Đặng T V ở ấp Phước Lộc, xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Trần Thị Ánh P đã có hành vi lén lút trộm cắp được của chị V số tiền 7.450.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 màu xanh trị giá 1.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Trần Thị Ánh P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, bị cáo có sức khỏe nhưng bị cáo không lao động để kiếm tiền, bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần tuyên một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo có 01 tiền án, bị cáo mới ra tù ngày 29 tháng 9 năm 2022, nay lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản nên thuộc trường hợp tái phạm, do đó bị cáo bị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, xét xử vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên xem xét áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, hiện không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Ngày 01/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã trả lại các tài sản gồm số tiền 7.450.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 màu xanh cho bà Lê Đặng T V là đúng quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Ánh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt:

Trần Thị Ánh P 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Về xử lý vật chứng: Không.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Thị Ánh P phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều: 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 23/5/2023); đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ