- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn D phạm tội "trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HS-ST Ngày 26/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Cạn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lý Thị Minh Phương
2. Bà Triệu Thị Biên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Du - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vương Đức Chính - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2023/TLST-HS ngày 08/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST - HS ngày 12/5/2023 đối với bị cáo:
Triệu Văn D, sinh ngày 08 tháng 01 năm 1992, tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú (ĐKHKT và chỗ ở hiện nay): Thôn N, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 08/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn T và bà Đặng Thị H; vợ chưa có; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12/QĐ-XPHC01, ngày 14/9/2022 bị Chủ tịch UBND xã Lương Bằng xử phạt về hành vi “Trộm cắp tài sản” phạt tiền: 2.500.000đ; tiền án: Không. Tuy nhiên, tại bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2023/HSST, ngày 23/02/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; nhân thân: Tại bản án số 57/2014/HSST, ngày 05/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 15/3/2023 hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn cho đến nay. (Có mặt).
* Bị hại: Ông Hoàng Hữu D, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.( Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 55 phút ngày 19/02/2023 Công an xã Lương Bằng tiếp nhận tin tố giác của ông Hoàng Hữu D, sinh năm 1985, trú tại thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn về việc: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19/2/2023 khi ông lên kiểm tra xưởng chế biến lâm sản của gia đình tại Thôn N, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện bị mất trộm 01 (Một) lô chặt của máy chặt ván gỗ bóc mua tháng 3/2022 trị giá 2.800.000₫ (Hai triệu tám trăm nghìn đồng) để dưới gầm giường trong xưởng; 01 (Một) dao chặt của máy chặt ván gỗ bóc mua ngày 22/10/2022 trị giá 8.500.000₫ (Tám triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 (Một) dao chặt của máy chặt ván gỗ bóc mua vào ngày 13/12/2022 trị giá 4.500.000₫ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) để cạnh tủ đồ trong xưởng bị mất trộm. Tổng trị giá tài sản mất trộm là 15.800.000₫ (Mười lăm triệu tám trăm nghìn đồng).
Công an xã Lương Bằng đã xác minh và mời đối tượng Triệu Văn D, sinh năm 1992, trú tại Thôn N, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn lên làm việc. Quá trình làm việc D khai nhận được trộm cắp tài sản tại xưởng chế biến lâm sản của gia đình ông D và tự nguyện giao nộp lại tài sản đã trộm.
Xét vụ việc có dấu hiệu tội phạm ngày 24/2/2023 Công an xã Lương Bằng đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chợ Đồn kết luận:
- 01 (Một) lô chặt của máy chặt ván bóc, tổng chiều dài 164cm, đường kính chỗ rộng nhất là 14cm giá trị tài sản tại thời điểm định giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng);
- 01 (Một) con dao bóc ván bằng kim loại, có chiều dài 138cm, trên thân dao có xẻ rành để vít ốc lắp vào máy, rộng 14cm giá trị tài sản tại thời điểm định giá 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng);
- 01 (Một) con dao bóc ván bằng kim loại, có chiều dài 140cm, trên thân dao có xẻ rành để vít ốc lắp vào máy, rộng 12cm giá trị tài sản tại thời điểm định giá 3.500.000₫ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản 12.000.000₫ (Mười hai triệu đồng).
Tại Cơ quan điều tra Triệu Văn D khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 19/02/2023, D một mình đi bộ từ nhà đến xưởng chế biến lâm sản có địa chỉ tại Thôn N, xã L, huyện C của ông Hoàng Hữu D, sinh năm 1985, trú tại thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để tìm kiếm, trộm cắp tài sản có giá trị bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khi đến nơi D quan sát xung quanh không có người trông coi nên D đã lẻn vào trong xưởng, vào đến trong xưởng D quan sát thấy dưới gầm giường ngủ có 01 (Một) lô dao chặt của máy chặt bán gỗ bóc và cạnh tủ đồ có 02 (Hai) con dao chặt của máy chặt bán gỗ bóc nên D đã vác các tài sản trên ra khỏi xưởng đi theo đường cái về nhà, trên đường đi nếu thấy có người đi lại thì D giấu tài sản vừa trộm cắp được vào bụi cỏ ven đường, sau đó tiếp tục vác tài sản trộm cắp đi về nhà. Khi đi đến địa phận thôn Bản Quằng, xã Lương Bằng thì D bị Công an xã Lương Bằng mời lên trụ sở Công an xã làm việc và đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của bản thân và tự nguyện chỉ ra nơi cất giấu đồng thời giao nộp tài sản vừa trộm cắp được.
Về vật chứng: Đối với 01 (Một) lô chặt của máy chặt ván bóc; 01 (Một) con dao bóc ván bằng kim loại; 01 (Một) con dao bóc ván bằng kim loại. Quá trình điều tra xác định những tài sản trên là thuộc sở hữu hợp pháp của ông Hoàng Hữu D. Hiện đang tạm giữ và bảo quản theo quy định.
Về trách nhiệm Dân sự: Quá trình điều tra, bị hại ông Hoàng Hữu D không yêu cầu bị cáo Triệu Văn D phải bồi thường và xin được nhận lại tài sản đã bị mất trộm.
Tại bản cáo trạng số 28/CT- VKSCĐ ngày 05/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn truy tố Triệu Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên – đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa đọc bản luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn D từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Căn cứ Điều 56 của Bộ luật hình sự.Tổng hợp hình phạt với 12 (Mười hai) tháng tù của bản án số 07/2023/HSST ngày 23/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Triệu Văn D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam từ ngày 15/3/2023.
Không phạt bổ sung bị cáo theo khoản 5 Điều 173/BLHS.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Hoàng Hữu D không yêu nên không đề nghị xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47, 48/BLHS và Điều 106/BLTTHS:
Trả lại cho bị hại là ông Hoàng Hữu D 01 (Một) lô chặt của máy chặt ván bóc; 01 (Một) con dao bóc ván bằng kim loại; 01 (Một) con dao bóc ván bằng kim loại, đã qua sử dụng.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
Tại phiên tòa bị cáo Triệu Văn D không có ý kiến tranh luận
Bị cáo được nói lời sau cùng trước khi nghị án: Nhưng bị D không nói gì
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân huyện Chợ Đồn trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, của những người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều đúng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá tài sản, vật chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 19/02/2023, bị cáo D đã có hành vi lén lút trộm 01 (một) lô chặt và 02 (hai) con dao bóc ván bằng kim loại của máy chặt ván gỗ bóc có tổng trị giá trị 12.000.000,đ (Mười hai triệu đồng) để ở trong xưởng chế biến Lâm sản địa chỉ Thôn N, xã L, huyện C của ông Hoàng Hữu D để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.
Hành vi của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về nhân thân: Ngày 14/9/2022 bị cáo bị Chủ tịch UBND xã Lương Bằng xử phạt Vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12/QĐ- XPHC với số tiền 2.500.000đ, nhưng bị cáo chưa nộp tiền phạt. Ngày 05/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 57/2014/HSST, nay đã được xóa án tích. Nên bị cáo không được coi là có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo D không được coi là có tiền án bởi lẽ hành vi phạm tội lần này của bị cáo được thực hiện vào ngày 19/02/2023 trước khi có bản án số: 07/2023/HSST ngày 23/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn chưa có hiệu lực pháp luật nên bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo D đang được Công an xã mời lên làm việc, trong quá trình làm việc D đã chỉ chỗ cất giấu toàn bộ tài sản trộm cắp và hiện nay số tài sản này đang được tạm giữ và bảo quản theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn ngày 12 tháng 5 năm 2023 nên không thỏa mãn cho bị cáo D được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả ” theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng số: 28/CT- VKSCĐ, ngày 05/5/2023 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt bị cáo từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Không đề nghị phạt bổ sung bị cáo, đề nghị xử lý vật chứng, án phí là phù hợp.
Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi bị cáo D là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nhận thức, hiểu biết về pháp luật, trước khi thực hiện hành vi phạm tội này bị cáo D đã có hành vi phạm tội ngày 25/10/2022 tại khu vực Thôn N, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn ra Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú và có quyết định đưa vụ án ra xét mở phiên tòa để xét xử vào ngày 23/02/2023 về tội “ Trộm cắp tài sản” nhưng trong thời gian này bị cáo thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện, coi thường pháp luật, vì mục đích tiêu sài cá nhân, ngày 19/02/2023 lại tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản tại xưởng chế biến lâm sản với tổng giá trị 12.000.000,đ của ông Hoàng Hữu D. Xét thấy bị cáo ngày 14/9/2022 bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, ngày 25/10/ 2022 có hành vi trộm cắp tài sản đang chờ xét xử thì ngày 19/02/2023 lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, như vậy bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, do vậy cần phải được xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự và có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cách ly bị cáo ra khỏi xã hội đi tập trung cải tạo một thời gian nhất định mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Trước khi xét xử lần phạm tội này, bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HSST ngày 23/02/2023, bị cáo Triệu Văn D bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã có hiệu lực pháp luật nên phải được tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của bản án này cộng hình phạt của bản án mới. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thấy bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Hoàng Hữu D xin được lấy lại tài sản đã bị trộm cắp, ngoài ra ông Hoàng Hữu D không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: 01 (Một) lô chặt của máy chặt ván bóc; 01 (Một) con dao bóc ván bằng kim loại; 01 (Một) con dao bóc ván bằng kim loại, đều đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Hữu D cần được trả lại cho ông Hoàng Hữu D chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản".
2. Căn Cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn D: 20 (Hai mươi) tháng tù.
Tổng hợp với bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2023/HSST ngày 23/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt: Triệu Văn D 12 (Mười hai) tháng tù. Buộc bị cáo Triệu Văn D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/3/2023.
Không phạt bổ sung bị cáo D theo khoản 5 điều 173/BLHS.
3.Vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47, Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại tài sản cho chủ sở hữu ông Hoàng Hữu D như sau:
- 01 (Một) lô chặt của máy chặt ván bóc, tổng chiều dài 164cm (một trăm sáu mươi tư cen ti mét), đã qua sử dụng và bị rỉ sét.
- 01 (Một) con dao bóc ván bằng kim loại, có chiều dài 138cm (một trăm ba mươi tám cen ti mét, trên thân dao có xẻ rành để vít ốc lắp máy, rộng 14cm (mười bốn cen ti mét) đã qua sử dụng.
- 01 (Một) con dao bóc ván bằng kim loại, có chiều dài 140cm (một trăm bốn mươi cen ti mét), trên thân dao có xẻ rành để vít ốc lắp máy, rộng 12cm (mười hai cen ti mét), đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn ngày 12 tháng 5 năm 2023)
4.Về trách nhiệm dân sự: Ông Hoàng Hữu D bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
5.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Sở Tư pháp Bắc Kạn; - VKSND huyện Chợ Đồn; - Công an huyện Chợ Đồn; - THADS huyện Chợ Đồn; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Cạn |