vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh An Giang Tuyên án 24/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Đặng Kim L phạm t i “Tr m cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo Đặng Kim L theo quy định tại Khoản 5, Điều 173 của B luật Hình sự. [2]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 B luật Hình sự năm 2015, Điều 106 B luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, sung n p vào ngân sách Nhà nước 01 xe đạp màu nâu, đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trom - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đặng Kim L phạm t i “Tr m cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 306 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày 24 tháng 5 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Thạch Út và ông Trần Đặng Hồng Phước

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Cẩm – Thư ký Tòa án nhân dân Hện Châu Thành

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Đặng Kim L sinh ngày 22 tháng 8 năm 1983 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký h khẩu thư ng trú và ch ở: khóm Tây Khánh 4, phư ng Mỹ H, thành phố Long X, tỉnh An G ; nghề nghiệp: Bán vé số kiến thiết ; trình đ văn hóa: không biết chữ; dân t c: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Hiếu và bà Đ Kim S; chồng là Nguyễn Văn Ri và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022 tại Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang cho đến nay (có mặt).

- Bị hại:

1.Nguyễn Văn H, sinh năm 1988

Nơi cư trú: Ấp Hòa Thịnh, xã Hòa Bình Th, Hện Châu Th,tỉnh An G

2.Nguyễn Văn L, sinh năm 1962

Nơi cư trú: 831/42, khóm Bình Đức 2, phư ng Bình Đ, thành phố Long X, An G.

- Người làm chứng:

1/- Bà Cao Thị Thảo L, sinh năm 1991

2/- Bà Huỳnh Thị Huỳnh Nh, sinh năm 2001

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 gi 30 phút ngày 27/12/2022 Đặng Kim L đi tìm tài sản lấy tr m. Thực hiện ý định L điều khiển xe đạp (bán vé số) từ thành phố Long Xuyên đến khu vực ấp Hòa Thịnh, xã Hòa Bình Th, Hện Châu Th, tỉnh An G. L đừng lại, quan sát lúc này anh Nguyễn Văn H, thấy anh H đang nằm ngủ trên võng phía trước sân nhà; cửa rào nhà không khóa và không có ngư i; nên L đi vào nhà lấy tr m 01 điện thoại di đ ng hiệu Samsung Galaxy A50S màu xanh đen và 01 điện thoại di đ ng hiệu Vivo V23E màu đen bỏ vào túi áo khoác đang mặc rồi đi ra ngoài. Ngay sau đó, H giật mình phát hiện bị mất tr m 02 điện thoại di đ ng nên liền truy hô và cùng Cao Thị Thảo L (vợ của H) đuổi theo bắt giữ L cùng tang vật. Sau đó, H điện thoại báo cho Công an xã Hòa Bình Thạnh và giao L cùng tang vật cho Công an xã Hòa Bình Thạnh.

|Quá trình điều tra còn xác định: Khoảng 09 gi cùng ngày trước khi đến nhà của bị hại H, bị cáo chạy xe đạp qua đoạn đư ng khóm Bình Đức 2, phư ng Bình Đ, thành phố Long X với thủ đoạn như trên lợi dụng sơ hở của bị hại Nguyễn Văn L, L vào nhà lấy 01 thoại di đ ng Samsung Galaxy A30, màu xanh dương, bỏ vào túi áo khoác đang mặc rồi đi ra ngoài

* Vật chứng thu giữ:

- 01 xe đạp màu nâu, đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại di đ ng hiệu Samsung Galaxy A50S, màu: xanh đen, màn hình bị nứt còn hoạt đ ng, đã qua sử dụng; 01 ốp lưng bằng nhựa, có hình con gấu màu hồng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di đ ng hiệu Vivo V23E, màu đen, đã qua sử dụng; 01 sim số 0969.394.306 mạng Viettel, đã qua sử dụng; 01 sim số: 0354.522.599 mạng Viettel, đã qua sử dụng; 01 ốp lưng bằng nhựa trong suốt, đã qua sử dụng. Đã trao trả cho bị hại H.

- 01 điện thoại di đ ng Samsung Galaxy A30, màu xanh dương, đã qua sử dụng. Đã trao trả cho bị hại L.

*Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 119/KL.HĐ ngày 30/12/2022 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Hện Châu Thành, tỉnh An Giang. Kết luận:

- 01 điện thoại di đ ng hiệu Samsung Galaxy A50S, màu: xanh đen, màn hình bị nứt còn hoạt đ ng, đã qua sử dụng, có giá trị là 6.200.000 đồng x 30% = 1.860.000 đồng.

- 01 ốp lưng bằng nhựa, có hình con gấu màu hồng, đã qua sử dụng, có giá trị là 30.000 đồng x 40% = 12.000 đồng.

- 01 điện thoại di đ ng hiệu Vivo V23E, màu đen, đã qua sử dụng, có giá trị là 8.500.000 đồng x 80% = 6.800.000 đồng.

- 01 Sim số 0969.394.306 mạng Viettel, đã qua sử dụng, có giá trị là 100.000 đồng x 0%= 0 đồng.

- 01 Sim số: 0354.522.599 mạng Viettel, đã qua sử dụng, có giá trị là 100.000 đồng x 0%= 0 đồng.

- 01 ốp lưng bằng nhựa trong suốt, đã qua sử dụng, có giá trị là 30.000 đồng x 40% = 12.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá là: 8.778.670 đồng. (Bút lục số: 53 - 54)

* Căn cứ Kết luận định giá số 07/KL.HĐ ngày 09/02/2023 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Hện Châu Thành, tỉnh An Giang. Kết luận:

- 01 điện thoại di đ ng hiệu Samsung Galaxy A30, màu: xanh dương, đã qua sử dụng, có giá trị là 3.690.000 đồng x 40% = 1.476.000đồng.

Tổng c ng giá trị tài sản định giá là: 1.476.000đồng. (Bút lục số: 57)

Tổng giá trị tài sản định giá là: 10.254.670 đồng

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSCT-HS ngày 24/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Hện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Đặng Kim L, về t i “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự;

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Đặng Kim L thừa nhận toàn b hành vi phạm t i như n i dung vụ án đã nêu và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật,ăn năn hối cải và mong H i đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát luận t i đối với bị cáo, có thay đổi, bổ sung về tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt tổng số tiền là 10.254.670đ không phải tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là: 8.778.670 đồng. Mặc dù tài sản lấy tr m của bị hại L không đủ định L nhưng bị cáo thực hiện hành vi lấy tr m của các bị hại liên tục về mặt th i gian. Các n i dung còn lại giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của ngư i phạm t i, đề nghị H i đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 B luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Kim L mức án từ 09 (chín) tháng tù đến 01 (m t) năm 03 (ba) tháng tù về t i “Trộm cắp tài sản”, th i hạn chấp hành án tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 27/12/2022.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, đề nghị HĐXX: Tịch thu, sung n p vào ngân sách Nhà nước 01 xe đạp màu nâu, đã qua sử dụng.

Bị cáo Đặng Kim L không tranh luận với Kiểm sát viên và nói l i nói sau cùng: khai nhận toàn b hành vi phạm t i như cáo trạng truy tố, bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không ổn định, hiện còn con nhỏ; hứa cố gắng sẽ cải tạo tốt để sớm trở về hòa nhập c ng đồng, làm ăn lương thiện; lao đ ng, làm việc tạo thu nhập chính đáng.

Trong phần đối đáp đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận t i nêu trên, đề nghị H i đồng xét xử xem xét và quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa các Bị hại và những ngư i làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của h không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của B luật Tố tụng hình sự năm 2015, H i đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về n i dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình như n i dung Cáo trạng đã nêu trên. L i khai nhận t i của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp l i khai của bị hại, ngư i làm chứng về th i gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, đ ng cơ phạm t i và hậu quả do t i phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Trong khoảng th i gian khoảng 09 gi đến 11 gi 30 phút ngày 27/12/2022 bị cáo L đã lợi dụng sơ hở của các bị hại thực hiện hành vi lén lút vào trong nhà của bị hại để tìm tài sản lấy tr m cụ thể: 01 điện thoại di đ ng hiệu Samsung Galaxy A50S màu xanh đen, 01 ốp lưng bằng nhựa có hình con gấu màu hồng, 01 điện thoại di đ ng hiệu Vivo V23E màu đen, 01 ốp lưng bằng nhựa trong suốt, 01 sim số 0969394306, 01 sim số 0354522599 (trong tài khoản sim có 94.670 đồng). Tổng số tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại H trị giá là: 8.778.670 đồng. Đồng th i, trước khi bị cáo lấy tr m tài sản của bị hại H, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại L trong việc trông coi tài sản, bị cáo đã lén lút lấy tr m của bị hại L 01 điện thoại di đ ng Samsung Galaxy A30, màu xanh dương trị giá là: 1.476.000đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 10.254.670 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm t i “tr m cắp tài sản” và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của B luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ( t i ít nghiệm tr ng)

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm tr ng, tuy nhiên bị cáo là ngư i trưởng thành có đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã h i, bị pháp luật ngăn cấm, bị xã h i lên án nhưng vẫn thực hiện hành với l i cố ý trực tiếp. Mục đích của bị cáo xâm phạm quyền sở hữu tài sản của ngư i khác muốn có tiền tiền tiêu xài, phục vụ nhu cầu cá nhân m t cách nhanh chóng mà không phải bỏ công sức. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức đ phạm t i mà mình đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo thu c thành phần nhân dân lao đ ng nghèo, bản thân bị cáo không biết chữ nên nhận thức về pháp luật của bị cáo còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự.

Xét thấy: Mặc dù trước khi phạm t i bị cáo là ngư i có nhân thân xấu. Trước lần phạm t i này, ngày 24/5/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Long X, tỉnh An G xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách 01 năm 06 tháng về t i “Tr m cắp tài sản”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài h c tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm t i. Điều đó thể hiện ý thức coi thư ng pháp luật. Thực hiện hành vi với l i cố ý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, tạo nên tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân trong việc trông giữ, bảo vệ tài sản của mình. Do vậy cần phải đưa ra xét xử và có hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đồng th i chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để bu c bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã h i m t th i gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành ngư i lương thiện, ngư i công dân có ích cho xã h i. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất mức đ t i phạm đã gây ra nên được H i đồng xét xử chấp nhận.

Đối với phần luận t i thay đổi, bổ sung so với Cáo trạng đã truy tố cụ thể: về tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 10.254.670 đồng ( c ng giá trị tài sản của bị hại H và L), mặc dù tài sản lấy tr m của bị hại L không đủ định L căn cứ Kết luận định giá số 07/KL.HĐ ngày 09/02/2023 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Hện Châu Thành, tỉnh An Giang ( Bút lục số 57) nhưng bị cáo thực hiện hành vi lấy tr m của các bị hại liên tục về mặt th i gian. Do đó, đề nghị H i đồng xét xử bu c bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 10.254.670 đồng. HĐXX xét thấy việc thay đổi, bổ sung này không làm thay đổi t i danh, điều khoản áp dụng so với Cáo trạng truy tố, không làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo không ý kiến, không tranh luận. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 306 BLTTHS xem xét chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5, Điều 173 của B luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy bị cáo là ngư i không có việc làm ổn định, không có thu nhập, không có tài sản riêng gì có giá trị. Do vậy H i đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu về bồi thư ng thiệt hại, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, nên được H i đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bu c bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại trong vụ án được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Đặng Kim L phạm t i “Tr m cắp tài sản”.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 B luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đặng Kim L 01 (m t) năm tù; th i hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 27/12/2022

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo Đặng Kim L theo quy định tại Khoản 5, Điều 173 của B luật Hình sự.

[2]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 B luật Hình sự năm 2015, Điều 106 B luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, sung n p vào ngân sách Nhà nước 01 xe đạp màu nâu, đã qua sử dụng. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ-VKSCT-HS ngày 24/4/2023 của Viện kiểm sát huyện Châu Th.

[3]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 B luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 20016 của Uỷ ban thư ng vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bu c bị cáo Đặng Kim L phải n p 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; 333 B luật tố tụng hình sự.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Bị cáo Đặng Kim L được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24/5/2023)

Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)

Cỡ chữ