vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 01/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo L Văn T phạm tội “V

m ch t n i”. Về hình ph t: Xử phạt bị cáo L Văn T 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn Thiết - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo L Văn T phạm tội “V
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIA
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày 01-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Đoàn

Ông Hoàng Ngọc Qu

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hà Thu - Thư k Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Chu Xuân Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ l số: 22/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Lý Văn T, Giới tính: Nam, Tên gọi khác: Không, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1990 tại: huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, x M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: L Văn L, sinh năm 1962. Con bà: Lâm Thị D, sinh năm 1962 (đ chết). M kế: Lâm Thị T1, sinh năm 1974. Cùng trú tại: Thôn B, x M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con út. Vợ: Hoàng Thị Th, sinh năm 1985. Con: Có 01 con, 11 tu i. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú. Có m t.

-

i o ch a cho cáo: Ông Hoàng N - Luật sư trợ giúp pháp l thuộc Trung tâm trợ giúp pháp l Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có m t.

-

i i di n h p pháp của n i h i: Chị L Thị N, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn B, x M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có m t.

-

i m ch n :

1. Anh L Văn C, sinh năm 1980. Có m t.

2. Anh L Văn T2, sinh năm 1984. Có m t.

3. Anh L Văn L1, sinh năm 1993. Có m t.

4. Ông L Văn Đ, sinh năm 1963. V ng m t.

Cùng địa chỉ: Thôn B, x M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/3/2023, L Văn T đang điều khiển, vận hành máy xúc của mình để san ủi đất, sửa đường đi vào ruộng thuộc K, thôn B, xã M cho gia đình các ông L Văn C, sinh năm 1980, L Văn T2, sinh năm 1984 và L Văn L1, sinh năm 1993 đều trú tại thôn B, xã M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Đến khoảng 14 giờ, L Văn C, L Văn T2, L Văn L1 lên xem và ngồi trên ta luy dương bên phải hướng đầu máy xúc để giám sát quá trình làm đường. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, ông L Văn Đ, sinh năm 1963 và Lương Văn Q, sinh năm 1985 (Q là anh rể ruột của L Văn T) trú cùng thôn lên xem đứng cách phía sau máy xúc khoảng 10m, sau đó ông L Văn Đ tìm đường trèo lên ta luy để quan sát, còn Lương Văn Q đi về phía xe máy xúc. Trong lúc L Văn T đang vận hành máy xúc, do không để và nghĩ không có ai phía sau nên L Văn T đ điều khiển máy xúc lùi thì bánh xích bên phải cán qua chân phải của Lương Văn Q. Khi đó ông Đ đang trèo lên ta luy nhìn về phía máy xúc thì thấy ông Q nằm ở bánh xích bên phải xe máy xúc, ông Đ chạy lại kêu lên “T ơi, T ơi” và cùng hô hoán thì T dừng lùi máy xúc và điều khiển quay gầu để nhìn xuống dưới phía sau thì thấy chân của Q bị bánh xích bên phải xe máy xúc đè lên, nên T đ tiến máy xúc về phía trước khoảng 02m, mục đích để đưa chân của Q ra kh i bánh xích. Sau đó T t t máy và nhảy xuống đỡ Q ngồi dậy, đồng thời bế Q lên lưng L Văn C để đưa đi cấp cứu, đi được một đoạn khoảng 05m do thấy Q chảy máu nhiều nên T chạy xuống nhà anh Lương Văn Th lấy võng để cùng mọi người khiêng đưa Q đi cấp cứu, tuy nhiên đi được khoảng 100m thì Lương Văn Q đ tử vong.

Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Gia phối hợp với các cơ quan chức năng đ t chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, ghi lời khai người làm chứng, những người có liên quan, làm rõ diễn biến, nguyên nhân dẫn đến vụ việc.

Ngày 21/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Gia ra Quyết định trưng cầu Giám định viên pháp y, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn xác định nguyên nhân chết của Lương Văn Q. Tại bản kết luận giám định pháp y số: 379/KLGĐTT-PC09, ngày 06/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn đối với: tử thi Lương Văn Q, sinh năm: 1985, trú tại thôn B, xã M, huyện B kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Vết thương hở vùng chậu hông, b n bìu bên phải gây dập nát tinh hoàn; vỡ, dập nát xương cánh chậu. khớp chậu đùi bên phải vỡ dập nát.

- Rách đứt động mạch chậu đầu trên xương đùi.

- G y hở hai xương cẳng chân bên phải, di lệch biến dạng hoàn toàn.

2. Kết luận:

- Nguyên nhân chết: Sốc chấn thương.

- Thời gian chết: Thời gian chết của tử thi so với thời điểm giám định tử thi là dưới 24 giờ.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai nhận đó phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm tử thi, Kết luận giám định, lời khai những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Về phần bồi thường dân sự: Ngày 04/5/2023 bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại đ th a thuận bồi thường, kh c phục hậu quả với số tiền là 50.000.000 đồng, đồng thời người đại diện hợp pháp của người bị hại đ viết đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số: 21/CT-VKS-BG ngày 22/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia đ truy tố bị cáo L Văn T về tội "Vô làm chết người" quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 128; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo L Văn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm.

Về xử l vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị trả lại 01 (một) chiếc xe máy xúc loại bánh xích, nh n hiệu KOBELCO, màu sơn: xanh, đen cho chủ sở hữu hợp pháp là bị cáo L Văn T.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Luật sư thực hiện trợ giúp pháp l cho bị cáo nhất trí quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Tuy nhiên bị cáo đ nhận ra lỗi lầm, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời đ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - x hội đ c biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí. Vì vậy, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng, không có kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng quy định của pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đ thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo L Văn T đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đ nêu, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đ được công bố, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 15 giờ ngày 20/3/2023 L Văn T điều khiển, vận hành máy xúc để san ủi đất, sửa đường đi vào ruộng thuộc Khu i Luông, thôn B, x M, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn thì Lương Văn Qu nh đi về phía xe máy xúc. Trong lúc L Văn T đang vận hành máy xúc, do không để và nghĩ không có ai phía sau nên L Văn T đ điều khiển máy xúc lùi thì bánh xích bên phải cán qua chân phải của Lương Văn Q, ngay sau đó Q được mọi người đưa đi cấp cứu nhưng do vết thương quá n ng nên đ tử vong. Theo kết luận của cơ quan chuyên môn nguyên nhân Lương Văn Q chết là do: Sốc chấn thương. Do đó hành vi của bị cáo L Văn T đ đủ yếu tố cấu thành tội “Vô làm chết người”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đ trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác được Pháp luật bảo vệ. Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm Hình sự. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nh , tăng n ng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy bị cáo đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đ tự nguyện bồi thường, kh c hậu quả cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - x hội đ c biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Đây là các tình tiết giảm nh được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử l hình sự, chưa bị xử l hành chính, chưa bị xử l kỷ luật nên được coi là có nhân thân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 04/5/2023, L Văn T đ bồi thường, kh c phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo L Văn T không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nh , không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - x hội đ c biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Vụ án có một phần lỗi của bị hại khi đ uống rượu, chủ quan nghĩ xe máy xúc không di chuyển nên đ đến gần phương tiện khi đang hoạt động, do khuất tầm nhìn, rơi vào điểm mù nên bị cáo không quan sát được dẫn đến hậu quả làm bị hại tử vong. Căn cứ Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP-TANDTC ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, quy định về điều kiện cho hưởng án treo thì bị cáo có đủ điều kiện. Vì vậy, không cần b t bị cáo cách ly kh i đời sống x hội mà áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi thường trú để giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để giúp bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và x hội.

Về xử l vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, trả lại 01 (một) chiếc xe máy xúc loại bánh xích, nh n hiệu KOBELCO, màu sơn: xanh, đen cho chủ sở hữu hợp pháp là bị cáo L Văn T.

Về án phí: Bị cáo đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - x hội đ c biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí. Vì vậy, bị cáo được miễn án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về đề nghị của Luật sư trợ giúp pháp l cho bị cáo: Quan điểm đề nghị của Luật sư tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nh nhất.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đ i b sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;

Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 262; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo L Văn T phạm tội “V

m ch t n i”.

2. Về hình ph t: Xử phạt bị cáo L Văn T 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo L Văn T cho Ủy ban nhân dân x M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đ cho hưởng án treo. Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đ i nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

3. Về xử vật ch n : Trả lại 01 (một) chiếc xe máy xúc loại bánh xích, nh n hiệu KOBELCO, màu sơn: xanh, đen cho chủ sở hữu hợp pháp là bị cáo L Văn T.

(Vật chứng nêu trên hiện do bị cáo quản l , bảo quản theo biên bản giao nhận ngày 21/3/2023 của Công an huyện Bình Gia).

4. Về án phí: Bị cáo L Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền khán cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ