- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hoàng D - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HS-ST Ngày: 09 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Phan Thị Dòn
2/ Ông Lại Hữu Tâm
Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân
dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ
Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Lại Thế Mạnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại Phòng xét xử án hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 285/2022/TLST - HS ngày 19/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST – HS ngày 10/01/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Hoàng D; giới tính: Nam; sinh năm 1999, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Tổ 2, thôn 5, xã MP, huyện L, tỉnh B; chỗ ở: 125/L37 AK, Phường B, Quận T, Thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; họ tên cha: Trương Hoàng M; họ tên mẹ: V Thị D; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/8/2022 (có mặt).
Bị hại: Ông Ngô Trọng V, sinh năm: 2003; nơi cư trú: A5/152E đường LX, ấp 1, xã T, huyện B, Thành phố H (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Hoài M, sinh năm: 2003; nơi cư trú: A5/152E LX, ấp 1, xã T, huyện B, Thành phố H (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Hoàng D là người không có nghề nghiệp ổn định nên nảy sinh ý định tìm cách tiếp cận với người có tài sản để chiếm đoạt. D vào mạng xã hội Facebook thì thấy tài khoản của ông Ngô Trọng V đăng tin cần vay tiền nên D nhắn tin hứa sẽ cho ông V vay số tiền 30.000.000 đồng. Sau đó, cả hai hẹn gặp nhau tại nhà trọ của ông V để trao đổi về việc vay tiền.
Đến khoảng 09 giờ 40 phút ngày 05/8/2022, D điều khiển xe mô tô biển số 86B8-529.67 đến nhà trọ của ông V tại địa chỉ A5/152E ấp 1, xã T, huyện B. Tại đây, D yêu cầu ông V đưa điện thoại di động và giấy tờ tùy thân để D giả vờ đăng nhập tài khoản iCloud mới của D vào điện thoại của ông V để D quản lý theo dõi ông V nếu anh V bỏ trốn. Ông V đưa bản phô tô chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu cho D xem và nói D đợi bạn gái về ông V sẽ mượn điện thoại để đưa cho D đăng nhập iCloud như D yêu cầu. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, bạn gái của ông V là bà Huỳnh Hoài M đi làm về đưa điện thoại di động hiệu Iphone XS màu đen cho ông V, ông V đưa điện thoại này cho D. D cầm điện thoại di động của ông V lên xem và nói dối đã đăng nhập tài khoản iCloud xong, đồng thời kêu ông D tìm trụ ATM để D rút tiền đưa cho ông V vay. Sau đó, D cất điện thoại di động hiệu Iphone XS của ông V vào túi quần, còn giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của ông V thì D để vào trong cốp xe của D. Tin lời D, ông V liền điều khiển xe mô tô dẫn D đi tìm trụ ATM để rút tiền.
Lúc này, ông V điều khiển xe mô tô Airblade (không rõ biển số) lưu thông phía trước, còn D điều khiển xe mô tô biển số 86B8-529.67 phía sau để đi rút tiền. Khi đến trước địa chỉ F6/33 Ấp 6, xã B, huyện B thì D liền tăng ga điều khiển xe bỏ chạy, chiếm đoạt điện thoại di động hiệu Iphone XS của ông V. Ông V liền tri hô “Cướp, cướp” và điều khiển xe mô tô truy đuổi liên tục khi đến trước địa chỉ 485 đường BT, Khu phố 2, phường B, quận T thì bắt giữ được D cùng tang vật giao cho Công an phường B, quận T làm việc. Sau đó, Công an phường B, quận B bàn giao D cùng tang vật cho Công an xã T, huyện B tiếp nhận lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trương Hoàng D chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thì Trương Hoàng D đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản như nội dung nêu trên, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 2545/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh kết luận: 01 điện thoại di động Iphone XS 64Bb trị giá 7.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm:
01 điện thoại di động Iphone XS 64Bb, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Huỳnh Hoài My.
Thu giữ của bị cáo: 01 xe mô tô Honda Wave biển số 86B8-529.67; 01 điện thoại di động Samsung màu trắng; 01 điện thoại di động OPPO Reno5 màu xanh, tất cả tài sản này bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số 10/CT - VKS - BC ngày 16 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trương Hoàng D về tội "Cướp giật tài sản” theo Khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo Trương Hoàng D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:
Xử phạt bị cáo Trương Hoàng D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử lý vật chứng theo quy định.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nội dung đơn thể hiện các đương sự đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì về dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Hoàng D tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 06 – 21, 96 - 99, 205); phù hợp với lời khai của bị hại ông Ngô Trọng V (BL: 109 – 111, 196 - 197) phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; thu giữ vật chứng, kết quả định giá tài sản, cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định nên nảy sinh ý định tìm cách tiếp cận với những người có tài sản để chiếm đoạt tài sản của họ. Thông qua mạng xã hội Facebook bị cáo biết ông Ngô Trọng V có nhu cầu vay tiền nên bị cáo đã nhắn tin với nội dung cho ông V vay tiền với mục đích là tiếp cận ông V để chiếm đoạt tài sản. Vào khoảng 09 giờ 40 phút ngày 05/8/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 86B8-529.67 đến nhà trọ của ông V tại địa chỉ A5/152E ấp 1, xã T, huyện B. Tại đây, bị cáo yêu cầu ông V đưa giấy tờ tùy thân và điện thoại di động động hiệu Iphone XS màu đen (điện thoại của bà M là bạn gái của ông V đưa cho ông). Sau đó, bị cáo giả vờ đăng nhập tài khoản iCluod mới của bị cáo trên điện thoại của ông V để bị cáo quản lý theo dõi nếu ông V bỏ trốn nhưng thực chất bị cáo không cài gì. Với thủ đoạn bị cáo giả vờ mượn điện thoại di động của ông V để cài iCloud, sau đó nói ông V dẫn đi tìm trụ ATM để bị cáo rút tiền cho ông V vay là cách thức để bị cáo tiếp cận tài sản của ông V, thời điểm đó tài sản vẫn còn nằm trong sự quản lý của bị hại, chưa có sự chuyển giao tài sản giữa bị hại và bị cáo. Trên đường đi rút tiền, lợi dụng sơ hở của bị hại, bị cáo đã nhanh chóng tẩu thoát để chiếm đoạt điện thoại của bị hại. (Theo kết quả định giá tài sản số 2545/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh) kết luận điện thoại di động Iphone XS 64Bb trị giá 7.000.000 đồng.
Với những tình tiết được chứng minh trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trương Hoàng D đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.
[3] Tội phạm bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội là muốn có tiền tiêu xài cho bản thân mà không chịu bỏ công sức ra lao động chân chính. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng bản tính tham lam, biếng lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên đã cố ý phạm tội. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị cáo phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có cân nhắc đến các tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản kịp thời thu hồi giao trả cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với điện thoại di động Iphone XS 64Bb, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Huỳnh Hoài My theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật được lập vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 28/9/2022, Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với xe mô tô Honda Wave biển số 86B8-529.67, số khung: RLHJA384XKY004636, số máy: JA52E0011916; 01 điện thoại di động Samsung màu trắng; 01 điện thoại di động OPPO Reno5 màu xanh. Qua xác minh thì tất cả tài sản trên thuộc quyền sở hữu của bị cáo nhưng bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội, Hội đồng xét xử tuyên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định theo điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì về dân sự nên không đặt ra giải quyết.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 171; điểm h, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 299, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trương Hoàng D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2022.
Về vật chứng:
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 86B8-529.67, số khung: RLHJA384XKY004636, số máy: JA52E0011916; 01 điện thoại di động Samsung màu trắng; 01 điện thoại di động OPPO Reno5 màu xanh.
(các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh được lập vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 16/11/2022).
Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND H.BC; - CA H. BC; - Chi cục THADS H.BC; - Sở Tư pháp, TP. HCM; - Phòng hồ sơ, CA TP. HCM PV06; - Trại tạm giam đang giam, giữ bị cáo; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Hoàng Sơn |