vanban.org

Bản án 26/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 13/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của b hại Võ Thành H1 và Nguyễn Vũ Ngọc H2.

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Văn Quý Đ giữ nguyên Bản án s thẩm. Tuyên bố: B cáo Văn Quý Đ phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Văn Quý Đ - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của b hại Võ Thành H1 và Nguyễn Vũ Ngọc H2.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HS-PT
Ngày: 13-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Tồn

Các thẩm phán:

ông Phạm Tấn Hoàng

bà Trần Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Nam Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 581/2022/TLPT-HS ngày 22 tháng 12 năm 2022 đối với b cáo Văn Quý Đ về tội “Giết người” “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 95/2022/HS-ST ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

Văn Quý Đ, sinh ngày: 12 tháng 9 năm 1987 tại Đà Nẵng; N i cư trú: thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Văn Quý N (s) và bà Châu Th Mỹ L (s). Gia đình có 03 anh em. B cáo là con thứ hai. Có vợ là Nguyễn Vũ Ngọc H2 (đã ly hôn theo Quyết đ nh số 159/2021/QĐST-HNGĐ ngày 16/6/2021 của Tòa án nhân dân quận T, Đà Nẵng) và có 02 con chung (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2013).

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 01/12/2004, Công an quận T đưa vào trường giáo dưỡng;

- Ngày 10/ 5/2007, Công an quận T đưa vào c sở giáo dục Hoàn Cát;

- Ngày 18/4/2015, Công an quận T đưa vào c sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết đ nh số 115 ngày 18/4/2015 của Ủy ban nhân dân phường T Tây, quận T, Đà Nẵng;

B cáo b tạm giữ ngày 19/7/2022; Tạm giam ngày 28/7/2022. Có mặt.

*Người bào chữa cho bị cáo Văn Quý Đ: Ông Nguyễn Lê Minh V – Luật sư Công ty luật TNHH N- thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng, là người bào chữa theo yêu cầu của Tòa án.

*Bị hại có kháng cáo

1.Anh Võ Thành H1, sinh năm 1988. Trú tại: 439B đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

2.Ch Nguyễn Vũ Ngọc H2, sinh năm 1992. N i ĐKHKTT: tổ 31 phường T Tây, quận T, thành phố Đà Nẵng. Trú tại: 439B đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 18/7/2022, Văn Quý Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 43A-455.50 lưu thông trên đường 2 tháng 9. Khi đến đoạn trước nhà số 148 đường 2 tháng 9, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Đ phát hiện ch Nguyễn Vũ Ngọc H2 được anh Võ Thành H1 chở trên xe môtô biển kiểm soát 43C1- 846.43 đang lưu thông cùng chiều phía trước bên phải xe của Đ. Do bực tức và ghen tuông nên Đ đã tăng ga, điều khiển xe từ phía sau đâm thẳng vào đuôi xe mô tô biển kiểm soát 43C1- 846.43 làm xe mô tô cùng anh H1 và ch H2 ngã về phía trước. Khi thấy anh H1, ch H2 ngã xuống đường, Đ tiếp tục điều khiển xe ô tô cán qua xe mô tô và qua người của anh H1, nhưng anh H1 tránh được. Khi xe chạy qua được khoảng 05 mét, thì Đ dừng xe lại và điều khiển xe lùi thẳng về phía ch H2 và anh H1, nhưng ch H2 tránh được và chạy đến ôm anh H1. Thấy ch H2 ôm anh H1 nên Đ càng bực tức tăng ga chạy đâm thẳng vào hai người. Sau khi đâm anh H1 và ch H2, Đ điều khiển xe ô tô bỏ chạy. Đến trước số nhà 63 H, thuộc phường N, quận H thì dừng lại, bỏ xe ô tô tại đây và đặt xe Grab đi về khu vực ngã ba Huế thuê phòng trọ ngủ. Đến sáng ngày 19/7/2022 Đ đến Công an quận H đầu thú.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 211 ngày 31/8/2022 của Trung tâm pháp y thành phố Đà Nẵng kết luận thương tích của anh Võ Thành H1 như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám đ nh:

- Chấn động não đã điều tr : Hiện tại nạn nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, 12 đôi dây thần kinh sọ não không phát hiện bất thường, không yếu liệt chi; nạn nhân khai còn đau đầu chóng mặt nhưng không thường xuyên, ăn và ngủ ít.

- Chấn thư ng ngực kín: Gãy xư ng sườn từ số 1 đến xư ng sườn số 10 bên phải, can xấu (08 xư ng gãy 02 điểm); gãy xư ng sườn số 1 và số 2 bên trái, can xấu; tràn d ch – khí khoang màn phổi phải, tràn d ch khoang màng phổi trái, đụng dập nhu mô phổi đã được phẩu thuật dẫn lưu khoang màng phổi phải. Hiện tại vết mổ bên ngoài đã lành sẹo (V4), dày dính khoang màng phổi hai bên, nhỏ h n ¼ trường phổi.

- Gãy xư ng bả vai phải (gãy mỏm quạ). Hiện tại khớp vai phải không hạn chế cử động nhưng còn đau khi đưa cánh tay lên trên và ra sau.

- Chấn thư ng cột sống: Tổn thư ng diện khớp bên phải và bên trái nhiều đốt sống ngực; gãy mỏm ngang L2 và L3 bên trái di lệch nhẹ.

- Các tổn thư ng phần mềm (V1, V2, V3, V5, V6, V7, V8, V9, V10, V11 và V12) như đã nêu trên.

2. Tỷ lệ thư ng tích:

- Các tổn thư ng: Chấn động não, chấn thư ng ngực kín, gãy xư ng bả vai phải (gãy mỏm quạ) và các tổn thư ng phần mềm ở cẳng chân trái, gối phải, 1/3 trên cẳng chân phải, môi trên. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy đ nh tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên hiện tại là: 63% (sáu mư i ba phần trăm).

- Các vết xây xát da đã lành để lại vết thay đổi sắc tố (V1, V2, V5, V6, V7 và V12). Tổn thư ng này không được ghi nhận trong hồ s y tế nhưng nạn nhân khai xảy ra trong vụ việc trên. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy đ nh tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên hiện tại là: 04% (bốn phần trăm).

- Chấn thư ng gãy mỏm ngang L2 và L3 bên trái. Tổn thư ng này không được phát hiện và ghi nhận trong quá trình điều tr , tuy nhiên trong khám giám đ nh chụp CT Scanner ngực (dựng hình 3D) kiểm tra đã xác đ nh gãy. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy đ nh tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên hiện tại là: 12% (mười hai phần trăm).

Tổng tỷ lệ tổn thư ng c thể do các thư ng tích trên gây nên (theo phư ng pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy đ nh) hiện tại là: 69% (sáu mư i chín phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 209 ngày 31/8/2022 của Trung tâm pháp y thành phố Đà Nẵng kết luận thương tích của chị Nguyễn Vũ Ngọc H2 như sau:

1. Các dấu hiệu chính qua giám đ nh:

- Các tổn thư ng phần mềm ở tay trái (V1, V2). Hiện tại các tổn thư ng đã lành, vận động tay trái trong giới hạn bình thường.

- Các tổn thư ng phần mềm ở chân trái (V3, V4, V5, V6, V7, V8, V9). Hiện tại các tổn thư ng đã lành, vận động chân trái trong giới hạn bình thường.

- Các tổn thư ng phần mềm ở chân phải (V10, V11). Hiện tại đã lành, vận động chân phải trong giới hạn bình thường.

2. Theo Thông tư số 22/2019TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy đ nh tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên hiện tại là 14% (mười bốn phần trăm).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 113 ngày 08/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H kết luận: Tổng giá tr thiệt hại của xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda SH mode màu trắng nâu, biển kiểm soát 43C1-846.43 là 2.064.000đ (hai triệu không trăm sáu mư i bốn ngàn đồng).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 95/2022/HS-ST ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định

I/ Tuyên bố: B cáo Văn Quý Đ phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

1.Căn cứ điểm a, i, n, q khoản 1 Điều 123; điểm e khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: B cáo Văn Quý Đ 20 (hai mư i) năm tù về tội “Giết người”.

2.Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm h, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: B cáo Văn Quý Đ 01 (một) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

3.Căn cứ Điều 55 Bộ Luật hình sự; Quyết đ nh hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội: Buộc b cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 21 (hai mư i mốt) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 19/7/2022.

II/Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ Luật hình sự; Điều 589, Điều 590 của Bộ Luật dân sự;

-Buộc Văn Quý Đ phải bồi thường cho anh Võ Thành H1 tổng số tiền 192.550.000đ, cụ thể như sau:

Tiền khám chữa bệnh: 31.000.000 đồng;

Tiền ăn 11 ngày tại bệnh viện: 3.300.000 đồng;

Tiền mua vật dụng cá nhân, vật dụng y tế: 6.000.000 đồng;

Tiền hóa đ n mua thuốc tại nhà: 10.000.000 đồng;

Tiền bồi dưỡng ăn uống tại nhà 45 ngày: 13.500.000 đồng;

Tiền lư ng hai tháng nghỉ việc không lư ng: 24.000.000 đồng;

Tiền chụp CT: 1.900.000 đồng;

Tiền tổn thất tinh thần: 67.050.000 đồng;

Tiền 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax: 27.800.000 đồng;

Tiền 01 đồng hồ đeo tay: 8.000.000 đồng.

- Buộc Văn Quý Đ phải bồi thường cho ch Nguyễn Vũ Ngọc H2 tổng số tiền 34.090.446đ, cụ thể như sau:

Tiền ăn uống 05 ngày nằm viện: 1.500.000 đồng;

Tiền viện phí: 1.176.446 đồng;

Tiền mua thuốc tại nhà: 7.000.000 đồng;

Tiền tổn thất tinh thần: 22.350.000 đồng;

Tiền sửa chữa xe mô tô BKS 43C1-846.43: 2.064.000đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực người được thi hành án có đ n yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm bồi thường thì phải ch u thêm khoản tiền lãi suất đối với số tiền chậm trả tư ng ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả được xác đ nh theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy đ nh tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Không chấp nhận yêu cầu bồi thường 28.000.000đ giá tr của điện thoại di động Iphone 13 Promax của ch H2.

Ngoài ra bản án s thẩm còn quyết đ nh về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 27/11/2022, b cáo Văn Quý Đ có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 24/11/2022, b hại Võ Thành H1, Nguyễn Vũ Ngọc H2 có đ n kháng cáo phần trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm b hại Võ Thành H1 và Nguyễn Vũ Ngọc H2 có đ n xin rút toàn bộ kháng cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Đ n kháng cáo của b cáo Văn Quý Đ và người b hại Võ Thành H1, Nguyễn Vũ Ngọc H2 có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và nằm trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay b hại Võ Thành H1 và Nguyễn Vũ Ngọc H2 có đ n xin rút toàn bộ kháng cáo, đề ngh HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của b hại.

Về nội dung đ n kháng cáo của b cáo Văn Quý Đ: Bản án hình sự s thẩm số: 95/2022/HS-ST ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xét xử b cáo về tội “Giết người” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điểm a, i, n, q khoản 1 Điều 123, khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự và tổng hợp hình phạt chung cho b cáo 21 (hai mốt) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà b cáo gây ra. Do đó, đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của b cáo Văn Quý Đ giữ nguyên Bản án s thẩm.

Trong bản luận cứ bào chữa cho b cáo Văn Quý Đ, người bào chữa cho b cáo đề ngh HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, b hại Võ Thành H1 và Nguyễn Vũ Ngọc H2 có đ n xin rút toàn bộ kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của b hại.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo Văn Quý Đ xác đ nh: B cáo và ch Nguyễn Vũ Ngọc H2 đã ly hôn nhưng do ghen tuông nên khi phát hiện anh H1 đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43C1- 846.43 chở ch H2 trên đường 2/9 b cáo đã có hành vi điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 43A-455.50 đâm thẳng vào đuôi xe của anh H1. Khi thấy anh H1, ch H2 ngã xuống đường, b cáo tiếp tục điều khiển xe ô tô cán qua xe mô tô và qua người của anh H1 và lùi thẳng xe về phía ch H2 và anh H1. Khi ch H2 tránh được và chạy đến ôm anh H1 thì b cáo càng bực tức và lại tiếp tục tăng ga chạy đâm thẳng vào hai người. Hậu quả gây thư ng tật cho anh H1 với tỷ lệ tổn thư ng là 69%; ch H2 với tỷ lệ tổn thư ng là 14% và thiệt hại của xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda SH mode màu trắng nâu, biển kiểm soát 43C1-846.43 là 2.064.000đ.

Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã tuyên bố b cáo phạm tội “Giết người” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điểm a, i, n, q khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo b cáo Văn Quý Đ thì thấy: Hành vi phạm tội của b cáo là đặc biệt nghiêm trọng. B cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức điều khiển hành vi nhưng cố tình thực hiện đến cùng thể hiện tính chất côn đồ và vì động c đê hèn. Do đó, Tòa án cấp s thẩm đã xử phạt b cáo mức án 20 năm tù về tội “giết người” và 01 năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tổng hợp hình phạt chung buộc b cáo chấp hành mức án 21 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do b cáo gây ra. Tại phiên tòa b cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của b cáo Văn Quý Đ.

[4] Các phần khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Về án phí: B cáo Văn Quý Đ phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 342 và Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của b hại Võ Thành H1 và Nguyễn Vũ Ngọc H2.

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Văn Quý Đ giữ nguyên Bản án s thẩm.

Tuyên bố: B cáo Văn Quý Đ phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Áp dụng điểm a, i, n, q khoản 1 Điều 123; điểm e khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: B cáo Văn Quý Đ 20 (hai mư i) năm tù về tội “Giết người”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm h, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: B cáo Văn Quý Đ 01 (một) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Áp dụng Điều 55 Bộ Luật hình sự; Quyết đ nh hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội: Buộc b cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 21 (hai mư i mốt) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 19/7/2022.

Về án phí: B cáo Văn Quý Đ phải ch u 200.000 đồng án phí Hình sự phúc thẩm.

Các quyết đ nh khác của Bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ