- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bích-Lợi"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị B về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HNST Ngày: 03 – 4 - 2023 V/v “Ly hôn, giao con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chí Vương
2. Bà Phạm Thị Thanh Hương
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Chang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 321/2022/TLST- HNGĐ ngày 24/11/2022 về việc “Ly hôn, giao con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị B, sinh năm 1989
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu L, sinh năm 1978
Cùng nơi cư trú: Tổ 2, ấp 2, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/9/2022, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Chị Hồ Thị B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị B và anh Nguyễn Hữu L sau thời gian tìm hiểu đã quyết định về chung sống với nhau từ năm 2011, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, được sự đồng ý của hai bên gia đình và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến giữa năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L có quan hệ với người đàn bà khác nên vợ chồng thường xuyên cải vã lẫn nhau, mâu thuẫn kéo dài. Chị B xác định tình cảm vợ chồng giữa Chị và anh L không còn, không muốn tiếp tục chung sống và duy trì hôn nhân nên chị B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cho chị với anh L để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng giữa chị B và anh L có 02 con chung tên: Nguyễn Hồ Đăng K, sinh ngày 07/3/2014 và Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 19/7/2021. Nay ly hôn chị B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không tạo lập được tài sản chung; không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh L không có mặt tại các buổi làm việc nên chị B yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải về quan hệ hôn nhân và các nội dung khác.
Sau khi Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước thụ lý đơn của chị Hồ Thị B, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ và triệu tập anh Nguyễn Hữu L lên Tòa án để làm việc nhưng anh L không có mặt để giải quyết vụ án. Tại phiên tòa anh L cũng vắng mặt đến lần thứ hai, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nên không ghi nhận được ý kiến của anh L.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thành phần các đương sự tham gia vụ án, mở phiên tòa đúng quy định. Quá trình giải quyết vụ án anh L đều vắng mặt mà không lý do. Tại phiên tòa anh L vẫn vắng mặt đến lần thứ 02 mà không lý do nên anh L đã từ bỏ quyền L của mình tại Tòa án; Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt là quyền của nguyên đơn theo quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị B, cho chị Hồ Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Hữu L. Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung tên Nguyễn Hồ Đăng K, sinh ngày 07/3/2014 và Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 19/7/2021 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng; chị B không yêu cầu cấp dưỡng nên không giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên đề nghị không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Chị Hồ Thị B khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Nguyễn Hữu L, hiện nay anh L cư trú tại xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt liên tiếp 02 lần tại phiên tòa, do đó căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày và các tài liệu, chứng cứ xác định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị B và anh Nguyễn Hữu L sau thời gian tìm hiểu đã quyết định về chung sống với nhau từ năm 2011, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, được sự đồng ý của hai bên gia đình và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến giữa năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L có quan hệ với người đàn bà khác nên vợ chồng thường xuyên cải vã lẫn nhau, mâu thuẫn kéo dài. Chị B xác định tình cảm vợ chồng giữa Chị và anh L không còn, không muốn tiếp tục chung sống và duy trì hôn nhân nên chị B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cho chị với anh L để ổn định cuộc sống.
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, không ghi nhận được ý kiến của bị đơn là anh L nhưng quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để các đương sự hòa giải đoàn tụ nhưng anh L không có mặt để hòa giải (từ bỏ quyền hòa giải) và chị B yêu cầu không hòa giải. Mặt khác, tại biên bản ngày 16/01/2023 Tòa án đã xác minh Ban ấp nơi chị B và anh L sinh sống về tình trạng hôn nhân thì được cung cấp, anh L và chị B không thường xuyên sống chung với nhau trong thời gian dài. Từ những căn cứ và phân tích trên, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị B và anh L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài. Để đảm bảo cuộc sống ổn định cho các bên sau này, cần chấp nhận yêu cầu được ly hôn với anh L của chị B.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng giữa chị B và anh L có 02 con chung tên Nguyễn Hồ Đăng K, sinh ngày 07/3/2014 và Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 19/7/2021. Xét thấy hiện nay con chung đang được chị B trực tiếp nuôi dưỡng, phát triển bình thường, cuộc sống và việc học hành ổn định nên cần giao con cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con là phù hợp và cũng là nguyện vọng của con chưa thành niên; chị B không yêu cầu cấp dưỡng nên không giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không giải quyết.
Về án phí: Chị Hồ Thị B phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 227, 228, 264, 266 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 9 và Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị B về việc ly hôn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Hữu L.
(Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 059/KH ngày 28/11/2011 của UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước).
- Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Hồ Đăng K, sinh ngày 07/3/2014 và Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 19/7/2021 cho chị Hồ Thị B trực tiếp nuôi dưỡng; anh Nguyễn Hữu L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cấm đoán, ngăn cản. Vì L ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ cho rằng bên kia không đáp ứng được quyền L của con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Hồ Thị B phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014264 ngày 22/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ để được xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện H; - THA huyện H; - Đương sự; - UBND xã Đ, H; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Đình Học |