vanban.org

Bản án 26/2023/HNGT-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Áp dụng Điều 28; 35; 147; 227; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2015. Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 26; 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị H - Phan Huy H1"
  • Tòa quyết gì? * Áp dụng Điều 28; 35; 147; 227; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HNGT–ST
Ngày 30-9-2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Phú Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Bình

Ông Phùng Đình Bàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn H1 Nam – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2023/TLST – HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn V, xã Th, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Bị đơn: Anh Phan Huy H1, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu hành chính , phường Ng, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày: Chị và anh Phan Huy H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường Ng, thành phố Vĩnh Yên ngày 09 tháng 5 năm 2017. Sau ngày cưới chị về làm dâu và sinh sống cùng gia đình anh H1, tình cảm vợ cH bình thường. Đến đầu năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị không tìm được tiếng nói chung, anh H1 luôn bắt chị pH1 làm theo ý của anh H1 và luôn đề nghị chị thay đổi công việc. Bản thân chị nhận thấy rằng công việc làm kinh doanh bất động sản vừa giúp chị có thu thập có thời gian cho gia đình nên chị không thay đổi, không những vậy anh H1 luôn nghi ngờ chị có quan hệ bất chính với người con trai khác. Đầu năm 2022 chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn V, xã Th, huyện T sinh sống, trong thời gian ly thân không ai có hành động gì hàn gắn tình cảm, không quan T nhau và yêu thương nhau. Nay, chị xác định tình cảm vợ cH không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1.

Về con chung: Chị xác nhận anh chị có 01 con là Phan Trí T, sinh ngày 05 tháng 3 năm 2018, hiện cháu đang ở cùng anh H1. Ly hôn, chị có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Trong thời gian cháu T ở với anh H1, anh H1 luôn ngăn cản chị trong việc chăm sóc cháu T, anh H1 đã chuyển trường học của cháu T để chị không được thăm nom chăm sóc cháu. Hiện tại chị đang làm công việc kinh doanh bất động sản tại Công ty An Q có địa chỉ tại phường D, quận H, thành phố Hà Nội, thu nhập khoảng 15.000.000đ-20.000.000đ/01 tháng; chị có đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục cháu T, chị không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản, khoản nợ, khoản có cho vay và đất canh tác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Phan Huy H1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại bản tự khai và biên bản hòa giải, anh H1 trình bày: Anh xác định về thời gian kết hôn, quá trình vợ cH sống ly thân là đúng. Từ khi chị H làm công việc kinh doanh bất động sản, anh đã góp ý về mối quan hệ với bạn trai cũ nhưng chị H không thay đổi, chị H vẫn liên lạc với người đó khiến cho anh không được thoái mái. Anh có hỏi nhưng chị H không thừa nhận và anh có đề nghị chị H không làm công việc đó nữa nhưng chị H không nghe dẫn đến vợ cH bất đồng quan điểm với nhau, tuy nhiên theo anh đó là những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống vợ cH hàng ngày, không đến mức pH1 ly hôn. Anh đề nghị Tòa án hòa giải để vợ cH có cơ hội đoàn tụ.

Về con chung: Như chị H trình bày là đúng. Ly hôn, anh cũng có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Hiện tại anh đang làm nhân viên tại Salon tóc Th có địa chỉ tại phường Ng, thành phố V, thu nhập khoảng 15.000.000đ-20.000.000đ/01 tháng; anh có đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục cháu T, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Hơn nữa anh đang sống cùng bố mẹ đẻ, luôn được bố mẹ giúp đỡ cùng hỗ trợ trong việc nuôi cháu T.

Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản vay, cho vay và công sức: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa sơ thẩm: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách của người tham gia tố tụng, thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và bảo đảm thời hạn chuẩn bị xét xử cũng như chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H; xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Phan Huy H1. Giao cháu Phan Trí T, sinh ngày 05/3/2018 cho chị Lê Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Phan Huy H1 không pH1 đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Chị H pH1 chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con, vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phan Huy H1, cư trú tại khu hành chính 10, phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên; do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Phan Huy H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H1.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Phan Huy H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 09/5/2017 tại Ủy ban nhân dân phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ cH xảy ra mâu thuẫn, không quan T, yêu thương nhau, vợ cH nghi ngờ lẫn nhau, dẫn đến hai bên sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Tại Biên bản hòa giải tại Tòa án anh H1 không đồng ý ly hôn với chị H và đề nghị Tòa án hòa giải để vợ cH có cơ hội đoàn tụ. Tuy nhiên, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải các lần tiếp theo và tại phiên tòa anh H1 đều vắng mặt, điều đó thể hiện anh H1 không có hành động muốn hàn gắn tình cảm, đoàn tụ với chị H. Trong thời gian ly thân hai bên cũng không ai có hành động gì để hàn gắn tình cảm vợ cH. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh H1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ cH không còn khả năng hàn gắn. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung của chị H và anh H1 thấy rằng: Hai vợ cH có 01 con chung là Phan Trí T, sinh ngày 05 tháng 3 năm 2018, hiện nay cháu T đang sinh sống cùng anh H1. Sau khi ly hôn, cả chị H và anh H1 đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Xét thấy, việc chăm sóc nuôi dưỡng con cái là quyền và trách nhiệm của bố, mẹ; yêu cầu được nuôi con và chăm sóc con chung của chị H và anh H1 đều chính đáng; chị H và anh H1 đều có công việc và mức thu nhập ổn định. Tuy nhiên, cháu T còn nhỏ cần có sự chăm sóc của người mẹ để cháu được phát triển một cách toàn diện. Chị H đang làm công việc kinh doanh bất động sản tại Công ty An Quý H, thu nhập khoảng 15.000.000đ-20.000.000/01 tháng; hiện nay chị đang ở cùng bố mẹ đẻ của chị ở thôn V, xã Th, huyện T, được bố mẹ tạo điều kiện về chỗ ăn ở nên cũng có chỗ ở ổn định. Do đó, để tránh xáo trộn về T lý và ổn định cuộc sống của cháu T, đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cho con chung được tốt nhất về thể chất và tinh thần, cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, như yêu cầu của chị H là phù hợp. Không chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của anh H1. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản vay, cho vay và công sức: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị H pH1 chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Phan Huy H1.

2. Về con chung: Giao cháu Phan Trí T, sinh ngày 05 tháng 3 năm 2018 cho chị Lê Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên hoặc có thể lao động tự túc được. Anh Phan Huy H1 không pH1 đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị H pH1 nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: 0005088 ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Chị H đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH1 thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ