- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông H yêu cầu được ly hôn với bà L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H về việc tranh chấp ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST Ngày 10-4-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chữ Cần
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Quang Xẹt;
2. Ông Nguyễn Văn Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nam – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 298/2022/TLST-HNGĐ ngày 22/11/2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/3/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976, thường trú: thôn 4, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An, có đơn xin vắng mặt;
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976, thường trú: khối 3, thị trấn Kr, huyện Kr, tỉnh Đắk Lắk, tạm trú; nhà trọ L, khu phố 1, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 07/12/2000. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan cuộc sống thường xuyên cãi vã, tình trạng gia đình luôn căng thẳng, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2010. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông H yêu cầu được ly hôn với bà L.
Vợ chồng ông H, bà L có 02 con chung là Nguyễn Thị Mai P, sinh ngày 20/3/2001 và Nguyễn Thị T, sinh ngày 06/12/2004, các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung, ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì lý do bận công việc, không có thời gian tham gia tố tụng nên ông H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà L thống nhất với trình bày của ông H về quan hệ hôn nhân và con chung. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và quan tâm đến nhau. Tuy nhiên, do quan niệm trọng nam khinh nữ nên khi bà L sinh 02 người con gái là Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị Mai P thì bị gia đình chồng và chồng là ông Nguyễn Văn H hắt hủi không quan tâm, ông H và gia đình ông H vì muốn có con trai nối dõi nên kiếm lý do cho rằng bà L không chung thủy, đuổi bà L ra khỏi nhà của ông H vào ngày 29 Tết âm lịch năm 2010 để ông H có điều kiện cưới thêm vợ và sinh con trai. Vợ chồng cũng đã sống ly thân với nhau từ đó cho đến nay. Bà L đồng ý với yêu cầu ly hôn của ông H. Về con chung: 02 con chung là Nguyễn Thị Mai P, sinh ngày 20/3/2001 và Nguyễn Thị T, sinh ngày 06/12/2004 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với lời khai trước đây bà L khai có con chung với ông Nguyễn Văn H tên Nguyễn Thanh N, sinh ngày 23/7/2011 tuy nhiên theo giấy khai sinh đăng ký ngày 02/7/2012 của UBND thị trấn Kr, huyện Kr, tỉnh Đắk Lắk, cháu Nguyễn Thanh N có mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Tuyết N, bà L không có chứng cứ gì chứng minh cha, mẹ, con giữa ông H, bà L với cháu Ngân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Sau này nếu có chứng cứ chứng minh, bà L sẽ yêu cầu giải quyết sau.
Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, nợ chung. Vì lý do bận công việc, không có thời gian tham gia tố tụng nên bà L có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H, bị đơn bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 227 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạch Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 07/12/2000 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo ông H trình bày, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm. Ông H, bà L không sống chung với nhau từ năm 2010, vợ chồng không thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, bỏ mặc muốn sống ra sao thì sống. Mặc dù biết ông H xin ly hôn nhưng bà L không có mong muốn hàn gắn tình cảm, đồng ý ly hôn và giao con cho ông H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, điều này đã cho thấy bà L cũng không quan tâm đến cuộc hôn nhân với ông H, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của ông H là có cơ sở để chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng ông H, bà L có 02 con chung là Nguyễn Thị Mai P, sinh ngày 20/3/2001 và Nguyễn Thị T, sinh ngày 06/12/2004, các cháu đã trưởng thành, ông H, bà L không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H về việc tranh chấp ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị L.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0000235 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - Chi cục THADS huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; - Các đương sự; - Lưu VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chữ Cần |