vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ H, cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Chấp nhận chị Nguyễn Thị Mỹ H ly hôn với anh Thiều Ngọc T. Về việc nuôi con: Giao các cháu Thiều Lê Hà M, sinh ngày 20/12/2007 và Thiều Tấn P, sinh ngày 08/02/2010 cho chị Nguyễn Thị Mỹ H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho cho đến khi con thành niên, con đã thành ni… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và Thiều Ngọc Tấn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ H, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04/4/2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Loan Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hòa và bà Lê Thị Toan.

Thư ký phiên tòa: Ông Thủy Sơn Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tham gia phiên tòa: Bà Cao Thảo Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 864/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ 03, phường Đ, thành phố P, tỉnh G. Có mặt

- Bị đơn: Anh Thiều Ngọc T, sinh năm 1968; Địa chỉ: 141 đường Đ, Tổ 04, phường H, thành phố P, tỉnh G. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày: Chị và anh Thiều Ngọc T tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Trà Bá, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai vào ngày 12/5/2005. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống H phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống từ chuyện nhỏ nhặt, không hiểu nhau nên tình cảm phai nhạt dần. Chị sống với anh T thấy áp lực về mặt tinh thần nên từ cuối tháng 11 năm 2022 chị dẫn hai cháu Thiều Lê Hà M và Thiều Tấn P về nhà mẹ đẻ ở cho đến nay. Hiện nay không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau, không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình H phúc nên không thể kéo dài cuộc sống chung với nhau được, do vậy chị H yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Thiều Ngọc T.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Thiều Lê Hà M, sinh ngày 20/12/2007 và Thiều Tấn P, sinh ngày 08/02/2010. Sau khi ly hôn nguyện vọng của chị là được trực tiếp nuôi hai cháu M và P. Chị yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng, mỗi cháu 2.500.000 đồng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và tự lập được. Hiện nay chị làm nghề giáo viên, thu nhập 01 tháng 7.000.000 đồng nên đủ điều kiện để nuôi các cháu. Tại phiên tòa chị H chỉ yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu P hàng tháng, mỗi tháng 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi và tự lập được. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 05 năm 2023 cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi và tự lập được.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Thiều Ngọc T trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Mỹ H tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn như chị H trình bày. Trong quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn xuất phát từ khi anh đón mẹ ruột anh về nhà chăm sóc. Mặt khác bản thân anh cũng có sai sót nhưng xuất phát từ tính nóng giận không kìm chế được. Sau đó anh có xin lỗi chị H và các con. Nay chị H yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý vì nếu vợ chồng ly hôn thì sẽ ảnh hưởng đến các cháu, anh muốn giữ gia đình để các con có đủ tình thương của cả cha và mẹ.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Thiều Lê Hà M, sinh ngày 20/12/2007 và Thiều Tấn P, sinh ngày 08/02/2010. Anh vẫn tôn trọng quyền lựa chọn của các cháu nhưng trong thâm tâm anh suy nghĩ nếu vợ chồng ly hôn anh mong muốn được trực tiếp nuôi cháu P và giao cho chị H trực tiếp nuôi cháu M, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp giao hai cháu cho chị H nuôi dưỡng thì anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Phúc hàng tháng, mỗi tháng 2.500.000 đồng vì tiền lương hưu của anh hiện nay 11.000.000 đồng và phải nuôi mẹ già. Nếu hàng tháng các cháu chi tiêu sinh hoạt không đủ thì anh sẽ cho thêm.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tham gia phiên tòa có ý kiến phát biểu như sau:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn với anh T; Về con chung: giao hai cháu M và P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh T về việc cấp dưỡng nuôi cháu P hàng tháng, mỗi tháng 2.500.000 đồng; Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ, anh T phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H yêu cầu ly hôn với anh Thiều Ngọc T, sinh năm 1968; địa chỉ: 141 đường Đ, Tổ 04, phường H, thành phố P, tỉnh G. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Thiều Ngọc T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị H và anh T có phát sinh mâu thuẫn nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T. Anh T không đồng ý ly hôn vì mong muốn các con có gia đình có đủ cả tình thương của cha và mẹ nhưng từ khi chị H và anh T ly thân đến nay anh T cũng không có biện pháp nào để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy chị H và anh T không ai còn quan tâm lo lắng, chăm sóc cho nhau, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T như vậy là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Thiều Ngọc T.

Về việc nuôi con: Chị H và anh T có hai con chung là Thiều Lê Hà M, sinh ngày 20/12/2007 và Thiều Tấn P, sinh ngày 08/02/2010. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi hai cháu M và P và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu Phúc hàng tháng, mỗi tháng 4000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Xét chị H đang trong độ tuổi lao động, có nghề nghiệp ổn định, có sức khỏe, đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các cháu My và Phúc có nguyện vọng được sống cùng chị H. Do vậy, cần giao cho chị H trực tiếp nuôi con là các cháu Thiều Lê Hà M, sinh ngày 20/12/2007 và Thiều Tấn P, sinh ngày 08/02/2010 cho đến khi các cháu M và P đủ 18 tuổi và tự lập được là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Xét với mức thu nhập của anh T, điều kiện anh T hiện nay phải nuôi mẹ già và nhu cầu thiết yếu của cháu P thì mức cấp dưỡng của anh T đối với cháu P 2.500.000 đồng là phù hợp. Nên ghi nhận sự tự nguyện của anh T cấp dưỡng đối với cháu Phúc hàng tháng, mỗi tháng 2.500.000 đồng. Vì vậy anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu Thiều Tấn P, sinh ngày 08/02/2010 hàng tháng, mỗi tháng 2.500.000 đồng cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi và tự lập được.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H và anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn anh Thiều Ngọc T phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ H, cụ thể như sau:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận chị Nguyễn Thị Mỹ H ly hôn với anh Thiều Ngọc T.

2. Về việc nuôi con: Giao các cháu Thiều Lê Hà M, sinh ngày 20/12/2007 và Thiều Tấn P, sinh ngày 08/02/2010 cho chị Nguyễn Thị Mỹ H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho cho đến khi con thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó

Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Anh Thiều Ngọc T phải cấp dưỡng nuôi cháu Thiều Tấn P, sinh ngày 08/02/2010 hàng tháng, mỗi tháng 2.500.000 đồng. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 5 năm 2023 cho đến khi cháu Phúc đủ 18 tuổi và tự lập được.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002857 ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Thiều Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.

Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (04/4/2023), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ