vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ánh H.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ánh H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Qu. Về con chung: Con chung đã trưởng thành, không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HỒNG - QUÍ"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ánh H.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày 09-3-2023
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly.

Các Hội thẩm nhân nhân dân:

Ông Võ Thành Nhân.

Ông Lê Văn Kiệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nhật Minh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 789/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Lê Thị Ánh H, sinh năm 1974 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: M , phường B, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

-Bị đơn: Nguyễn Văn Qu, sinh năm 1973 (vắng mặt);

Địa chỉ: M , phường B, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Lê Thị Ánh H trình bày:

Tôi và anh Nguyễn Văn Qu tự tìm hiểu và kết hôn vào năm 1997, có đăng ký kết hôn và được UBND phường 3, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 33, năm 1997. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Đến giữa năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Nhận thấy, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên làm đơn yêu cầu Tòa án xem xét:

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ánh H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Qu.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Văn Viển, sinh năm 1997 và Nguyễn Thị Mộng Tiền, sinh năm 2001. Con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Nguyễn Văn Qu: Đã được toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng vẫn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Chị Lê Thị Ánh xin vắng mặt. Anh Nguyễn Văn Qu vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Lê Thị Ánh H và anh Nguyễn Văn Qu kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Được Ủy ban nhân dân phường 3, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn. Ngày 29/12/2022 chị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Qu, đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Hình thức và nội dung đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn Qúi cư trú tại phường 3, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

Bị đơn Nguyễn Văn Qu đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H yêu cầu ly hôn với anh Qu vì cho rằng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Mặc dù đã cố gắn hàn gắn tình cảm, nhưng không giải quyết được mâu thuẫn. Xét thấy, tại phiên tòa chị H xin vắng mặt xét xử và không có văn bản thay đổi yêu cầu khởi kiện, cho thấy chị H đã kiên quyết ly hôn với anh Qu. Ngoài ra, từ khi chị H khởi kiện ly hôn đến nay, phía anh Qu cũng không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm với chị H, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị H. Cho thấy, hôn nhân giữa chị H với anh Qu, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị H và anh Qu có 02 con chung, hiện nay các con chung đã trưởng thành. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị Ánh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 56, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ánh H.

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ánh H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Qu.

- Về con chung: Con chung đã trưởng thành, không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Lê Thị Ánh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0023224 ngày 29/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên xem như đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Ánh H và anh Nguyễn Văn Qu có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ