- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LƯƠNG THỊ M - HOÀNG VĂN D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 8 - 2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lò Thị Hiêng
2. Bà Cao Thị Hồng Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Ôn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
ơ
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 106/2023/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2023 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/QĐST - HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lương Thị M. Địa chỉ: Số nhà X, tổ dân phố Y, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Hoàng Văn D. Địa chỉ: Số nhà X, tổ dân phố Y, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/5/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn huyện Đ, tỉnh Lai Châu (nay là UBND phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên) vào năm 1986. Kết hôn tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng. Vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay. Tuy vẫn ở chung nhà nhưng không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà M yêu cầu được ly hôn.
- Về con chung: Bà M và ông D có 03 con chung là Hoàng Hải D – sinh ngày 01/9/1987, Hoàng Thị Thanh L – sinh ngày 19/12/1989, Hoàng Hải Ph – sinh ngày 01/9/1991. Hiện các con đều đã thành niên và đã có gia đình riêng nên bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/7/2023 bị đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ủy ban nhân dân thị trấn huyện Đ, tỉnh Lai Châu (nay là UBND phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên) vào năm 1986. Kết hôn tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, hai bên đã cố gắn hàn gắn nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ nhiều năm nay mặc dù ở cùng nhà. Bà M yêu cầu ly hôn, tùy ý bà M.
- Về con chung: Ông D và bà M có 03 con chung là Hoàng Hải D – sinh ngày 01/9/1987, Hoàng Thị Thanh L – sinh ngày 19/12/1989, Hoàng Hải Ph – sinh ngày 01/9/1991. Ba con đều đã thành niên, khỏe mạnh phát triển bình thường nên ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ: Ông D không có ý kiến gì.
Ông D xin vắng mặt tại các phiên họp.
3. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS).
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71/BLTTDS.
Bị đơn không trả lời thông báo thụ lý vụ án, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72/BLTTDS.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147/BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M.
Về hôn nhân: Bà M được ly hôn với ông D.
Về con chung, tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thẩm quyền xét xử: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn có nơi cư trú tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39/BLTTDS.
Về thủ tục tố tụng:
- Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ bằng biện pháp: Lấy lời khai của đương sự nên thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để cử kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
- Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ, vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228/BLTTDS HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của các đương sự có cơ sở để xác định bà M, ông D có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn huyện Đ, tỉnh Lai Châu vào năm 1986 là hôn nhân hợp pháp.
Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng: Quá trình giải quyết các đương sự đều thống nhất nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng đã sống ly thân vơi nhau, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Bị đơn đã được thông báo thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trả lời, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, không có thiện chí trong việc hòa giải đoàn tụ.
Như vậy, có căn cứ để xác định: Bà M, ông D đã sống ly thân vợ chồng không còn tình cảm, không còn quan tâm gì đến nhau, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng (nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau...) làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M.
Ông D và bà M có 03 con chung là Hoàng Hải D - sinh ngày 01/9/1987, Hoàng Thị Thanh L - sinh ngày 19/12/1989, Hoàng Hải Ph - sinh ngày 01/9/1991. Ba con đều đã thành niên, khỏe mạnh phát triển bình thường, các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích trên, các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị M.
1. Về hôn nhân: Bà Lương Thị M được ly hôn với ông Hoàng Văn D.
2. Về con chung: Không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Lương Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002240 ngày 09/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (Bà M đã nộp đủ tiền án phí).
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/8/2023). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP ĐBP; - Những người tham gia tố tụng; - UBND phường N, TP ĐBP; - Chi cục THADS TP ĐBP; - Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Huệ |