vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Trần Vân A; chị Trần Vân A được ly hôn anh Trần Tiến Tr.

Về con chung: Giao cho chị Trần Vân A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Lâm Đ, sinh ngày 26/9/2020 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi); anh Trần Tiến Tr không phải cấp dưỡng cho con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Trần Vân A xin ly hôn anh Trần Tiến Tr"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Trần Vân A; chị Trần Vân A được ly hôn anh Trần Tiến Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31/7/2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi
ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Gái

Các Hội thẩm nhân dân: Trần Ngọc Chiến và bà Nguyễn Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Hải – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2023/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 về việc:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/7/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Trần Vân A, sinh năm: 1992.

Nơi đăng ký cư trú: Lô 5 đường B3, VĐ Trung VH, NT, Khánh Hòa; nơi đăng ký tạm trú: tổ 5, khu Hòa Lạc, phường CB, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: Nghề tự do, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: anh Trần Tiến Tr, sinh năm 1983.

Nơi đăng ký cư trú: tổ 4, khu 6, phường CTh, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ở hiện tại: tổ 7, khu 5A, phường CTr, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: Công nhân; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 01/3/2023, Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Vân A đều trình bày: Tôi với anh Trần Tiến Tr kết hôn hợp pháp vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân phường Cth, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn tôi có chồng nhưng đã ly hôn, còn anh Tr chưa có vợ, chúng tôi tìm hiểu nhau một năm.

Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống cùng nhau tại địa chỉ tổ 4 khu 6 phường Cth, thành phố D cùng gia đình bên chồng, vợ chồng tôi chung sống hòa thuận đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chúng tôi bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát cãi vã. Mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện và ngày càng trầm trọng, đến tháng 8/2022 chúng tôi đã sống ly thân cho đến nay, từ tháng 9/2022 anh Tr cùng gia đình chuyển đến tổ 7, khu 5A, phường Ctr, Thành phố D, tỉnh Quảng Ninh sinh sống, còn tôi đưa con thuê nhà trọ ở tại địa chỉ tổ 5, khu Hòa Lạc, phường CB, thành phố D; từ đó chúng tôi không ai quan tâm đến ai, nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, tôi yêu cầu được ly hôn anh Tr để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng tôi có 01 con chung là Trần Lâm Đ, sinh ngày 26/9/2020; con chung sống cùng tôi từ khi vợ chồng sống ly thân, khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng cho con. Tôi cam kết đủ điều kiện nuôi dạy con chung tốt.

Về tài sản chung, công nợ chung: chúng tôi không có tài sản chung và không nợ chung nên không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trần Tiến Tr quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều trình bày: tôi và chị Trần Vân A kết hôn hợp pháp vào ngày 24/11/2020 tại Ủy ban nhân dân phường CTh, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh, trước khi kết hôn tôi chưa có vợ, chị Vân A đã có chồng nhưng đã ly hôn, chúng tôi có thời gian tìm hiểu nhau một năm. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc chúng tôi do khác biệt tính cách, chị Vân A có những suy nghĩ tích cực, lệch lạc làm ảnh hưởng đến chính mình và người xung quanh, từ đó vợ chồng nhiều lần xảy ra cãi vã nhau, từ tháng 8/2022 vợ chồng tôi sống ly thân cho đến nay, từ khi vợ chồng sống ly thân tôi nhiều lần thuyết phục vợ để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị Vân A không tiếp nhận, tôi thấy cuộc sống hôn nhân giữa chúng tôi không đạt, nay chị Vân A xin ly hôn tôi hoàn toàn đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng tôi có 01 con chung là Trần Lâm Đ, sinh ngày 26/9/2020; khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị Vân A cấp dưỡng cho con, tôi cam kết nuôi dạy con chung tốt.

Về tài sản chung, nợ chung: chúng tôi không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Trần Vân A và bị đơn anh Trần Tiến Tr đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Vân A căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; tuyên xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Vân A đối với anh Trần Tiến Tr; Giao cho chị Trần Vân A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Lâm Đ, sinh ngày 26/9/2020 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi); anh Tr không phải cấp dưỡng cho con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Trần Vân A khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Tiến Tr hiện cư trú tại địa bàn thành phố Cẩm Phả nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa chị Trần Vân A vắng mặt song đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án và tuyên đọc bản án theo quy định tại Điều 228 và Điều 267 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Vân A và anh Trần Tiến Tr là hôn nhân hợp pháp, hai anh chị kết hôn vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân phường Cẩm Thành, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu nhau một năm.

Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng gia đình chồng tại tổ 4, khu 6, phường Cẩm Thành, thành phố Cẩm Phả, vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 8/2022 thì mâu thuẫn căng thẳng, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do hai anh chị bất đồng quan điểm dẫn đến nhiều lần cãi chửi nhau, tháng 9/2022 anh Tr cùng gia đình chuyển đến địa chỉ tổ 7, khu 5A, phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh sinh sống, còn chị Vân A đưa con ra thuê nhà trọ ở, kể từ khi vợ chồng sống ly thân anh Tr cũng đã gặp gỡ, thuyết phục chị Vân A để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị Vân A không tiếp nhận, nay chị Vân A xin được ly hôn, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn nên yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Vân A là có căn cứ, theo quy định tại các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Vân A đối với anh Trần Tiến Tr.

Về con chung: Chị Trần Vân A và anh Trần Tiến Tr có một con chung là Trần Lâm Đ, sinh ngày 26/9/2020; hiện con chung đang sống cùng chị Vân A từ khi vợ chồng sống ly thân, khi ly hôn cả hai đương sự đều có yêu cầu được nuôi con chung, đều cam kết nuôi dạy con chung tốt, không ai yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng cho con; về yêu cầu được nuôi con chung của cả hai đương sự là chính đáng, cả hai anh chị V Tr đều đủ điều kiện để nuôi con song từ cuối tháng 8/2022 đến nay chị Vân A là người trực tiếp nuôi con, xác nhận của Bệnh Viện đa khoa thể hiện sức khỏe của cháu Trần Lâm Đ hiện tại là tốt, Ủy ban nhân dân nơi mẹ con chị Vân A sinh sống xác nhận thời gian chị Vân A sống ở địa phương chấp hành tốt chính sách pháp luật ở địa phương, hiện tại con chung Trần Lâm Đ chưa đủ 36 tháng tuổi; tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Con dưới 36 tháng tuổi phải được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng” vậy nên giao con chung Trần Lâm Đ cho chị Trần Vân A nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định của pháp luật đồng thời đảm bảo sự phát triển ổn định của cháu.

Về tài sản chung, nợ chung: chị Vân A và anh Tr đều xác định không có nên không đề cập.

Về án phí: Chị Trần Vân A phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Quyền kháng cáo: chị Trần Vân A và anh Trần Tiến Tr có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Các Điều Điều 28, 35, 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 và Điều 228, Điều 267 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Trần Vân A; chị Trần Vân A được ly hôn anh Trần Tiến Tr.

Về con chung: Giao cho chị Trần Vân A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Lâm Đ, sinh ngày 26/9/2020 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi); anh Trần Tiến Tr không phải cấp dưỡng cho con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vân A và anh Tr đều xác định không có nên không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Vân A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Vân A đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005299 ngày 29/3/2023 của Chi cục Thi thành án dân sự thành phố Cẩm Phả. Chị Vân A đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ