- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VN TỈNH KH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST Ngày 14 tháng 7 năm 2023 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VN - TỈNH KH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Tuyết Mỹ
- Các Hội thẩm nhân dân:
. Ông Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo
. Bà Huỳnh Thị Thanh Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quý Võ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện VN, tỉnh KH tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pháp - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 56/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Mộng T - sinh năm: 1984; hộ khẩu thường trú: Thôn LH, xã VL, huyện VN, tỉnh KH; chỗ ở hiện nay: Thôn NT, xã VK, huyện VN, tỉnh KH. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1- sinh năm: 1980; trú tại: Thôn LH, xã VL huyện VN, tỉnh KH. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 21 tháng 02 năm 2023, Đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 30 tháng 3 năm 2023, Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 08 tháng 3 năm 2023 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị Mộng T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Mộng T và anh Nguyễn Văn T1tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 24 tháng 9 năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã VL, huyện VN, tỉnh KH theo Giấy chứng nhận kết hôn số 94, quyển số 02/04. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, không hiểu và tôn trọng nhau nên thường hay cãi vã, xúc phạm nhau. Anh T1 không biết quan tâm chia sẻ gánh nặng gia đình với chị T, mọi việc trong gia đình đều do một mình chị T gánh vác. Mỗi lần nói chuyện khuyên nhủ thì vợ chồng lại kình cãi, đánh đập nhau. Trong năm 2017, chị T có nộp đơn đến Tòa án nhân dân huyện VN yêu cầu giải quyết ly hôn vơi anh T1nhưng anh T1hứa sẽ thay đổi vì vậy vợ chồng được giải quyết cho đoàn tụ quay về chung sống với nhau (theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 19/2017/QĐST-HNGĐ ngày 30/8/2017). Anh T1chỉ thay đổi được vài tháng sau đó mọi chuyện vẫn như cũ, anh T1vẫn chứng nào tật nấy. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và ngày càng trầm trọng nên cuối năm 2022, chị T đã về nhà cha mẹ đẻ sinh sống. Từ đó đến nay vợ chồng mạnh ai nấy sống, không ai hỏi han, quan tâm chăm sóc gì ai. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Thương.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung là Nguyễn Đăng N - sinh ngày 26/3/2005 và Nguyễn Thị Đăng T2 - sinh ngày 13/7/2007. Con chung Nguyễn Đăng N đã đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con chung Nguyễn Thị Đăng T2 hiện đang sống cùng chị T. Chị T yêu cầu giải quyết được tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Thị Đăng T2 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh T1cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ của ai, không ai nợ của vợ chồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn T1để trình bày ý kiến về việc chị T khởi kiện, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh T1đều không có mặt nên Toà án không lấy được lời khai của anh Thương, không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VN phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đặng Thị Mộng T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn T1- trú tại: Thôn LH, xã VL, huyện VN, tỉnh KH nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH. Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 đã được Tòa án nhân dân huyện VN triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T1.
Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù bị đơn anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng căn cứ vào lời khai của chị T và các chứng cứ đã thu thập được thì việc kết hôn giữa chị Đặng Thị Mộng T và anh Nguyễn Văn T1 là tự nguyện, đăng ký kết hôn số 94, quyển số 02/04 ngày 24 tháng 9 năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã VL, huyện VN, tỉnh KH, nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hợp pháp.
Căn cứ lời khai của chị T thì vợ chồng chị T, anh T1 hiện nay không còn sống chung, vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh T1 đến Tòa để giải quyết ly hôn giữa hai người nhưng anh T1đều không có mặt, chứng tỏ anh T1không còn quan tâm gì về quan hệ hôn nhân này nữa. Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 theo chị T trình bày là do tính tình vợ chồng không hợp, không hiểu nhau. Anh T1không chia sẻ gánh nặng gia đình cùng chị T mà mọi việc đều do chị T gánh vác. Những điều này làm cho vợ chồng thường xuyên cãi vã. Năm 2017, vợ chồng chị T đã được Tòa án nhân dân huyện VN giải quyết cho đoàn tụ, vợ chồng quay về chung sống với nhau nhưng sau đó mâu thuẫn vợ chồng vẫn tiếp diễn. Từ cuối năm 2022 cho đến nay, vợ chồng đã không còn sống chung, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm gì đến ai. Nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa hai người đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh T1là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị T.
Về con chung: Chị T, anh T1có 02 (hai) con chung là Nguyễn Đăng N-sinh ngày 26/3/2005 và Nguyễn Thị Đăng T2 - sinh ngày 13/7/2007. Con chung Nguyễn Đăng N đã đủ 18 tuổi nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Đăng T2 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy: Con chung Nguyễn Thị Đăng T2 hiện đang do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu T2 có nguyện vọng được mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy việc giao cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Thị Đăng T2 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị T. Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Chị Đặng Thị Mộng T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Đặng Thị Mộng T xác nhận vợ chồng không nợ chung của ai, không ai nợ chung của vợ chồng.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn và cũng không hòa giải được vụ án. Vì vậy, không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của anh Thương.
Về án phí: Chị Đặng Thị Mộng T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Đặng Thị Mộng T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
2. Về con chung:
Con chung Nguyễn Đăng N - sinh ngày 26 tháng 3 năm 2005 đã đủ 18 tuổi, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Giao con chung Nguyễn Thị Đăng T2 - sinh ngày 13 tháng 7 năm 2007 cho chị Đặng Thị Mộng T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi.
Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết chị T, anh T1 có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đặng Thị Mộng T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0001764 ngày 21 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VN; chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm.
* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh KH; - VKSND tỉnh Khánh Hoà; - VKSND huyện VN ; - Chi cục THA huyện VN; (Sau khi án có hiệu lực pháp luật) - Ủy ban nhân dân xã VL; - Các đương sự; - Lưu vụ án; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Vũ Tuyết Mỹ |