- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Mộng T - Nguyễn Hữu L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Mộng T đối với anh Nguyễn Hữu L về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-7-2023 V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Mỹ Phượng.
2. Ông Phan Văn Thà.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXX-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Lê Mộng T, sinh năm 1998; cư trú tại: tổ 28, ấp Đ, xã H, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
2. Bị đơn: anh Nguyễn Hữu L, sinh năm 1991; cư trú tại: tổ 27, ấp Đ, xã H, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 07/02/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Mộng T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Hữu L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H năm 2017. Anh chị chung sống đến khoảng năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh L thường xuyên sử dụng rượu, sau đó mắng chửi chị và các con. Gia đình đã hòa giải, chị cũng nhiều lần thuyết phục và cho anh L cơ hội để sửa chữa nhưng anh L không thay đổi. Anh chị không còn chung sống với nhau từ năm 2020 đến nay, trong thời gian này anh chị có gặp nhau để hàn gắn nhưng không thành. Mọi chi phí sinh hoạt hàng ngày trong gia đình và chăm sóc, nuôi dưỡng các con do chị gánh vác, anh L không phụ giúp và đóng góp công sức, số tiền nào. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu L.
- Về con chung: chị và anh L có 02 người con chung là Nguyễn Tường V, sinh ngày 25/10/2013 và Nguyễn Hữu B, sinh ngày 03/02/2020, chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Hữu L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh L vắng mặt không có lý do, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình và cung cấp lời khai đối với yêu cầu của nguyên đơn, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa: chị T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh L được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các điều 48, 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự như thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, lập hồ sơ vụ án theo quy định; xác định đúng tư cách đương sự, người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp; xác minh thu thập tài liệu chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định; thực hiện đúng thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung vụ án: căn cứ các điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Mộng T đối với anh Nguyễn Hữu L.
Về con chung: giao 02 cháu Nguyễn Tường V, sinh ngày 25/10/2013 và Nguyễn Hữu B, sinh ngày 03/02/2020 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; ghi nhận chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: chị Lê Mộng T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Hữu L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T, anh L.
Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H ngày 05/6/2017. Các bên có đủ điều kiện kết hôn, thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh L là đúng quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy: căn cứ chị T yêu cầu ly hôn với anh L lý do anh L thường xuyên uống rượu, không quan tâm, chia sẻ công việc trong gia đình. Lời trình bày của chị T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng thể hiện: anh L thường xuyên sử dụng rượu bia, đánh chị T. Mặc dù đã được hòa giải nhiều lần nhưng anh L không thay đổi. Xét thấy anh L đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh L.
Về con chung: anh chị có 02 người con chung là cháu Nguyễn Tường V, sinh ngày 25/10/2013 và Nguyễn Hữu B, sinh ngày 03/02/2020. Cháu V có nguyện vọng được sống với chị T, cháu B còn nhỏ và dưới 36 tháng tuổi. Xét thấy hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung; các cháu đã quen với điều kiện, môi trường sống và được chị T nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo điều kiện tốt nhất. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu V, cháu B cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Mộng T đối với anh Nguyễn Hữu L về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lê Mộng T với anh Nguyễn Hữu L. Chị T và anh L không còn quyền, nghĩa vụ vợ chồng.
2. Về con chung: giao cháu Nguyễn Tường V, sinh ngày 25/10/2013 và cháu Nguyễn Hữu B, sinh ngày 03/02/2020 cho chị Lê Mộng T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh Nguyễn Hữu L cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn anh Nguyễn Hữu L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung; chị Lê Mộng T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh L không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: chị Lê Mộng T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị T đã nộp theo biên lai thu số 0004292 ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Biên; - CC THADS huyện Tân Biên; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hoàng Hải |