- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Bích Thùy - Lê Văn Dụy"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Lê Bích Th được ly hôn với anh Lê Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/3/2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P – TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Cung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Hồng Lành
Bà Dƣơng Thị Tú Phƣơng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 354/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Bích Th, sinh năm 1983;
Địa chỉ: ấp H, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1983;
Địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Chị Th vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt lần thứ hai không
có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 21/10/2022, các lời khai tiếp theo có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lê Bích Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn D xây dưng hôn nhân năm 2006 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên được một thời gian chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được do chị và anh D bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện tại tình cảm vợ chồng cũng không còn, từ đó vợ chồng đã ly thân với nhau từ tháng 8/2022 đến nay, từ lúc ly thân đến nay chị và anh D không có gặp nhau hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng, nay chị xác định hôn nhân không thể tiếp tục được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn D.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh D có hai người con chung tên Lê Khánh Ng, sinh năm 2013 và Lê Thành Ph, sinh năm 2007, hiện cháu Ph đang sống với anh D, cháu Ng đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Ng, chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng; chị giao cháu Ph cho anh D nuôi, chị không cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng anh D vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P trình bày quan điểm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên Thẩm phán thực hiện chưa đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho chị Th được ly hôn với anh D; giao cháu Lê Khánh Ng, sinh năm 2013 cho chị Th được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; giao cháu Lê Thành Ph, sinh năm 2007 cho anh D được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; chị Th và anh D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Án phí nguyên đơn phải chịu 300.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Chị Lê Bích Th yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn D, anh D có địa chỉ thường trú tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Th có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Th và anh D là phù hợp quy định tại Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh D xây dựng hôn nhân năm 2006 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vì vậy, hôn nhân của anh, chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nguyên nhân ly hôn theo chị Th trình bày là do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hiện tại tình cảm vợ chồng cũng không còn nữa nên đã ly thân từ tháng 8/2022 đến nay, từ lúc ly thân đến nay mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, các bên cũng không có biện pháp hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng. Mặc khác anh D đã được Tòa án triệu tập hòa giải đoàn tụ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, điều này chứng tỏ anh D không có thiện chí đoàn tụ, từ đó cho thấy hôn nhân của chị Th và anh D lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th, cho chị Th được ly hôn với anh D.
Về con chung: Xét yêu cầu của chị Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Khánh Ng, sinh năm 2013; yêu cầu giao cháu Lê Thành Ph, sinh năm 2017 cho anh D nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho cha hay mẹ phải xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt để đảm bảo cho con chung có điều kiện sống tốt nhất, từ khi chị Th và anh D sống ly thân với nhau một thời gian dài thì chị Th là người trực tiếp nuôi cháu Ng, anh D là người trực tiếp nuôi cháu Ph; hiện tại các cháu cũng có cuộc sống ổn định và phát triển tốt, hơn nữa cháu Ng cũng có nguyễn vọng sống chung với chị Th, cháu Ph có nguyện vọng sống chung với anh D. Trên cơ sở cân nhắc quyền lợi về mọi mặt của con chung, về điều kiện nuôi con của chị Th, anh D cũng như nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Lê Thành Ph, sinh ngày 06/11/2007 cho anh D được tiếp tục nuôi dưỡng; giao cháu Lê Khánh Ng, sinh ngày 02/01/2013 cho chị Th nuôi dưỡng. Anh D và chị Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản.
Về cấp dưỡng: Do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị Th phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Lê Bích Th được ly hôn với anh Lê Văn D.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Thành Ph, sinh ngày 06/11/2007 cho anh D được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; giao cháu Lê Khánh Ng, sinh ngày 02/01/2013 cho chị Th được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Anh Lê Văn D và chị Lê Bích Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản.
3. Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Th phải nộp 300.000đ; chị Th đã dự nộp 300.000đ tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005473 ngày 01/11/2022 được chuyển thu án phí trong giai đoạn thi hành án.
6. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bạc Liêu; -VKSND huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - UBND thị trấn P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. Thành viên Hội đồng xét xử Dƣơng Thị Tú Phƣơng Huỳnh Quốc Khuyên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Tạ Văn Cung Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Tạ Văn Cung |