vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kiều O về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với anh Trần Minh Q.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim Oanh được ly hôn với anh Trần Minh Q. Về con chung: Giao 02 con chung tên là Trần Minh Q, sinh ngày: 11/09/2016 và Trần Thị Tú Q1, sinh ngày: 21/01/2020 cho chị Nguyễn Thị Kiều O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh Trần Minh Q không phải c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kiều O- Trần Minh Q; Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kiều O về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với anh Trần Minh Q.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-03-2023
V/v: “ Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tiến Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoài Đức Huệ

2. Ông Trần Minh Giám

Thư ký phiên tòa: Bà Quân Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 668/2022/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số: 162/2023/QĐST- HNGĐ ngày 14 tháng 03 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1997; HKTT: Ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Nơi ở hiện nay: Khu phố P, Thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Trần Minh Q, sinh năm 1994; HKTT: Ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Nơi ở hiện nay: Khu phố P, Thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 12 năm 2022, bản tự khai ngày 23 tháng 12 năm 2022, biên bản ghi nhận ý kiến đương sự ngày 03/01/2023 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, chị Nguyễn Thị Kiều O trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân:

Chị O và anh Trần Minh Q tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, Thị xã B, tỉnh Vĩnh Long và đã được giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 12/04/2016. Chị O và anh Q chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nguyên nhân chính là do anh Q không chung thủy, có những mối quan hệ ngoài xã hội không rõ ràng, chị O đã nhiều lần bỏ qua vì con cái nhưng anh Q vẫn không thay đổi, qua đêm với người khác giới bên ngoài, ngoài ra anh Q không có trách nhiệm với gia đình và con cái. Nay tôi nhận thấy hai vợ chồng không có tiếng nói chung, tình cảm không còn, hôn nhân không thể hàn gắn được nữa nên chị O nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị O được ly hôn với anh Trần Minh Q.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống chị O và anh Q có 02 con chung là cháu Trần Minh Q, sinh ngày: 11/09/2016 và Trần Thị Tú Q1, sinh ngày: 21/01/2020. Chị O yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu Q và cháu Q1 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết

- Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Vì bận công việc ở xa không thể đến tham gia phiên tòa nên chị O có đơn xin xét xử vắng mặt.

*Bị đơn anh Trần Minh Q đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị O là có cơ sở nên đề nghị chấp nhận cho chị O được ly hôn với anh Q. Về con chung: Có 02 con chung là Trần Minh Q, sinh ngày: 11/09/2016 và Trần Thị Tú Q1, sinh ngày: 21/01/2020, đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, tạm thời anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Chị O phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều O có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Trần Minh Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử theo quy định.

.Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Chị Nguyễn Thị Kiều O xin ly hôn với anh Trần Minh Q. Anh Q hiện có đăng ký tạm trú tại Khu phố P, Thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện N có thẩm quyền giải quyết vụ án. Quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Kiều O, bị đơn là anh Trần Minh Q.

. Về yêu cầu khởi kiện:

3.1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Kiều O và anh Trần Minh Q chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại UBND xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 12/04/2016) nên căn cứ Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 hôn nhân trên được xem là hợp pháp.

Xét lời trình bày của chị O tại đơn khởi kiện ngày 02 tháng 12 năm 2022, bản tự khai ngày 23 tháng 12 năm 2022, biên bản ghi nhận ý kiến đương sự ngày 03/01/2023 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy: Chị O yêu cầu được ly hôn với anh Q do anh Q không chung thủy và không có trách nhiệm với gia đình. Chị O đã nhiều lần khuyên nhủ để anh Q có cơ hội sửa chữa nhưng anh Q vẫn không thay đổi. Nay Chị O xác định tình cảm không còn, hôn nhân không thể hàn gắn được nữa nên Chị O nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trần Minh Q. Về phía anh Q được Tòa án triệu tập nhiều lần để làm việc, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Q liên tục vắng mặt thể hiện việc anh Q không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn giữa Chị O và anh Q là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị O yêu cầu ly hôn với anh Q là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

3.2. Về con chung: Chị O và anh Q trong quá trình chung sống có 02 con chung là cháu Trần Minh Q, sinh ngày: 11/09/2016 và Trần Thị Tú Q1, sinh ngày: 21/01/2020. Chị O yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn và tạm thời không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy rằng, cháu Q và cháu Q1 còn nhỏ cần sự nuôi dưỡng, chăm sóc từ mẹ để các con phát triển toàn diện về mọi mặt cũng như ổn định về tâm sinh lý. Do vậy, xét đề nghị của Chị O là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

3.3. Về tài sản chung: Không có nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

3.4. Nợ chung: Không có nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Chị O phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kiều O về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với anh Trần Minh Q.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim Oanh được ly hôn với anh Trần Minh Q.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên là Trần Minh Q, sinh ngày: 11/09/2016 và Trần Thị Tú Q1, sinh ngày: 21/01/2020 cho chị Nguyễn Thị Kiều O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh Trần Minh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Minh Q được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Không có nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Nợ chung: Không có nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

5.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều O phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà chị O đã nộp theo biên lai thu số 0009580 ngày 02 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Đồng Nai. Chị O đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ