- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vì Thị T - Triệu Văn H1"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu, chị Vì Thị T được ly hôn anh Bùi Ngọc V.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12 - 5 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Nguyễn Văn Tình
Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Bùi Trung Thành
Bà Quách Thị Lê
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà- Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 13/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vì Thị T - Sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn M, xã K, huyện N - Thanh hóa.
Bị đơn: Anh Bùi Ngọc V - Sinh năm 1984.
Địa chỉ: Đội 1, làng 11, xã K, huyện N - Thanh hóa.
Tại phiên toà vắng mặt chị T, anh V. Chị T đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Vvắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13/02/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vì Thị Ttrình bày: Chị và anh Bùi Ngọc Vkết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 28/3/2008 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hoá. Hiện nay bản chính giấy chứng nhận kết hôn đã bị thất lạc, nên chị chỉ cung cấp được bản sao trích lục kết hôn cho Tòa án. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 03 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm tới ai. Hiện chị đã về nhà bố, mẹ đẻ ở thôn M, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hoá sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Ngọc Vtheo quy địnhcủa pháp luật.
Về con chung: Chị và anh Bùi Ngọc Vcó hai con chung là Bùi Ngọc V 1, sinh ngày 24/3/2005 và Bùi Ngọc N, sinh ngày 19/6/2013. Nguyện vọng của chị T xin được trực tiếp nuôi cháu Bùi Ngọc N; anh Vtrực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Ngọc V1. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ngày 27/3/2023, chị V trình bày: Đến thời điểm xét xử vụ án, cháu Bùi Ngọc V1 đã đến tuổi thành niên, khỏe mạnh bình thường, tự lao động nuôi sống bản thân, nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết việc giao nuôi con đối với cháu V1.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Bùi Ngọc V để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị T, nhưng anh V không có mặt nên không có lời khai của anh Vvà các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Toà án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Lê Thị T1 là mẹ đẻ của anh V, bà Toán đã nhận đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án và cam kết giao ngay, tận tay cho anh V. Do anh V đi làm ăn xa không có mặt ở địa phương, bà T1 đã điện hoại thông báo nội dung văn văn bản tố tụng liên quan đến nội dung khởi kiện của chị Tcho anh V biết, nhưng anh V không thể về giải quyết việc ly hôn được. Anh có nhờ bà T1 trao đổi lại với Tòa án là anh đồng ý với nội dung đề nghị ly hôn, việc giao nuôi con cũng như về tài sản như trong đơn chị T đã trình bày.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị Tđã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh Vkhông thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Chị Tcó đơn xin xét xử vắng mặt, anh Vđược triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 BLTTDS. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận đơn yêu cầu của chị T. Xử cho chị Vì Thị Tđược ly hôn anh Bùi Ngọc V. Giao cho chị Ttrực tiếp nuôi dưỡng Bùi Ngọc N, sinh ngày 19/6/2013 đến khi thành niên. Anh Vkhông phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Tphải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Bùi Ngọc Vđăng ký hộ khẩu thường trú tại đội 1 làng 11, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hoá nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Chị Vì Thị Thđã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, anh Bùi Ngọc Vđã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án xét xử vắng mặt chị T, anh Vtheo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 BLTTDS.
Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa chị Tvà anh Vcó đăng ký kết hôn ngày 28/3/2008 tại Uỷ ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hoá là hôn nhân hợp pháp.
Đánh giá thực trạng về quan hệ hôn nhân: Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi xảy ra mâu thuẫn anh, chị không tìm ra biện pháp khắc phục, sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn. Về phía anh V biết việc chị Tlàm đơn xin ly hôn và Toà án đã ra thông báo thụ lý vụ án, tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Lê Thị T1 (mẹ đẻ anh V). Bà T1 đã thông báo cho anh V, nhưng anh Vkhông đến Toà án làm việc mà thể hiện ý kiến thông qua bà T1 là đồng ý với yêu cầu của chị T về nội dung giải quyết vụ án. Điều này thể hiện anh Vkhông quan tâm đến hạnh phúc gia đình và có ý bỏ mặc. HĐXX thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Tvà anh Vđã trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc, bền vững không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh V là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Tvà anh Vcó hai con chung là Bùi Ngọc V 1, sinh ngày 24/3/2005 và Bùi Ngọc N, sinh ngày 19/6/2013. Đến thời điểm xét xử vụ án Bùi Ngọc V1 đã thành niên.
Xét nguyện vọng của chị Txin được trực tiếp nuôi dưỡng Bùi Ngọc Nvà không yêu cầu anh Vcấp dưỡng là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với nguyện vọng của cháu N, nên chấp nhận.
Về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 482 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu, chị Vì Thị T được ly hôn anh Bùi Ngọc V.
2. Về con chung: Giao cho chị Vì Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Bùi Ngọc N, sinh ngày 19/6/2013, đến khi thành niên. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Vcó quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Vì Thị Tphải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, theo biên lai số AA/2021/0000494 ngày 17/02/2023. Chị Tđã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị T, anh V. Chị T, anh V có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - Các đương sự; - UBND xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Nguyễn Văn Tình |