vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Trọng H.

Về con chung: Giao cháu Trần Thị Y, sinh ngày 25/8/2008 cho chị Nguyễn Thị Thu H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Y đủ 18 tuổi. Anh Trần Trọng H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị Thu H. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Trọng H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13 - 10 - 2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quốc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Hà và ông Phạm Quốc Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 14/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2023 , giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1984.

2. Bị đơn: Anh Trần Trọng H, sinh năm 1983.

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh H.

Phiên toà: Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh H vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 7 năm 2023; bản tự khai, lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H kết hôn với anh Trần Trọng H là tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 29/10/2003 tại Uỷ ban nhân dân xã Trì Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lao Cai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhà chồng tại thôn Cầu Nhò Ngoài, xã Trì Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai được một thời gian ngắn thì chuyển đến sinh sống tại phố Thịnh Lu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc.

Theo chị H thì nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H thường xuyên uống rượu, về nhà kiếm cớ chửi, đánh chị, gây mâu thuẫn vợ chồng. Đến khoảng giữa năm 2005, vợ chồng chuyển về quê ở xóm 7 (nay là thôn Hội Động 2), xã Đức Lý, huyện Lý Nhân để sinh sống và làm việc nhưng cuộc sống vợ chồng không hoà thuận, hạnh phúc vì anh H thường xuyên uống rượu say xỉn, về nhà chửi và đánh vợ con nhiều lần, ảnh hưởng đến tinh thần và cuộc sống của gia đình. Mặt khác, anh H còn ham chơi lô đề, cờ bạc, đi làm được bao nhiêu tiền thì giữ lại để chơi bời, nên không có tiền đưa cho chị để nuôi con, dẫn tới vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, kéo dài. Đến khoảng tháng 8/2018, chị đã cùng các con về nhà bố mẹ chị ở cùng thôn sinh sống, ly thân với anh H, sau đó chị đã làm đơn ly hôn với anh H gửi đến UBND xã Đức Lý, huyện Lý Nhân. UBND xã đã làm việc và tổ chức hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ với nhau. Anh H ko đồng ý ly hôn, đề nghị được đoàn tụ nhưng chị xác định không thể tiếp tục chung sống được với anh H nên chị không muốn về đoàn tụ cùng anh H. Vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, không ai quan tâm đến ai, đề nghị được ly hôn với anh Trần Trọng H.

- Về con chung: Chị H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Trần Nguyên H, sinh năm 2004, hiện nay đang học đại học và Trần Thị Y, sinh ngày 25/8/2008, hiện nay do chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng.

Nếu vợ chồng ly hôn: Chị H đề nghị được nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Thị Y, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Đối với cháu H hiện nay đã trên 18 tuổi, tự lập cuộc sống nên chị H không yêu cầu Toà án phải giải quyết.

- Về tài sản, nợ chung và các vấn đề khác: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình làm việc tại UBND xã Đức Lý, bị đơn anh Trần Trọng H trình bày: Vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến khoảng tháng 4/2017 thì phát sinh mâu thuẫn do chị H mải xem điện thoại, không nghĩ đến việc nhà, anh nhắc nhở nhiều lần nhưng chị H không thay đổi, dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi nhau. Anh không chơi bời, cờ bạc, đi làm thợ xây vẫn mang tiền về nhà để chi tiêu trong gia đình. Chị H làm đơn ly hôn với anh, anh không nhất trí ly hôn với chị H và đề nghị được đoàn tụ cùng chị H để vợ chồng cùng nhau nuôi dậy các con ăn học, không muốn gia đình tan vỡ, anh hứa sẽ sửa chữa khắc phục những khuyết điểm, lỗi lầm của mình. Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 02 con chung như chị H trình bày là đúng, anh không đồng ý ly hôn với chị H nên anh không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác anh H không có ý kiến gì.

Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho anh Trần Trọng H; tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do, chị H có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải vụ án nên Toà án không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân có ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai nên đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị giải quyết ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Trọng H. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Y cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H. Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí ly hôn: Chị H phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do chị Nguyễn Thị Thu H cung cấp, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, anh Trần Trọng H vắng mặt phiên toà lần thứ hai không có lý do; chị Nguyễn Thị Thu H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Trọng H là hợp pháp.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Chị H cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do anh H thường xuyên uống rượu dẫn tới say xỉn, về nhà chửi và đánh vợ, con nhiều lần, ảnh hưởng đến tinh thần của các con và cuộc sống của gia đình. Mặt khác, anh H đi làm được bao nhiêu tiền thì giữ lại để chơi bời, lô đề, cờ bạc nên không có tiền đưa cho chị để nuôi con, dẫn tới vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng kéo dài, chị H đã làm đơn ly hôn với anh H; UBND xã Đức Lý đã hoà giải nhưng anh H không đồng ý ly hôn, đề nghị được đoàn tụ nhưng xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau.

Toà án đã tiến hành xác minh, thu tập tài liệu, chứng cứ, xác minh tại địa phương xã Đức Lý, xác định nguyên nhân vợ chồng chị H và anh H xảy ra mâu thuẫn như ý kiến của chị H trình bày nêu trên là đúng. Quá trình giải quyết vụ án, anh H không hợp tác làm việc, không tham gia hoà giải, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp với thực tế và pháp luật được quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị H và anh H có 02 con chung là cháu Trần Nguyên H, sinh năm 2004 và cháu Trần Thị Y, sinh ngày 25/8/2008.

Xét nguyện vọng nuôi dưỡng con chung của chị H là chính đáng, phù hợp với thực tế và điều kiện ăn ở, sinh hoạt, học tập của cháu; cháu Y có nguyện vọng muốn tiếp tục được sống cùng với chị H, anh H không đến Toà án làm việc, không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Y cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với cháu Trần Nguyên H, sinh năm 2004, hiện nay đã trên 18 tuổi, tự lập, chị Hà không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự đều không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Trọng H.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Y, sinh ngày 25/8/2008 cho chị Nguyễn Thị Thu H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Y đủ 18 tuổi. Anh Trần Trọng H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị Thu H.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002382 ngày 04 tháng 8 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ