- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRẦN THỊ MỸ H-NGUYỄN CHÂU P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HNGĐ - ST. Ngày: 23 - 5 – 2023. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Thanh Nhanh.
Ông Hà Phương Đông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 29/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1987; địa chỉ: đường L, phường B, quận K, thành phố Cần Thơ (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Châu P, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện lập ngày 14/3/2023 nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ H trình bày: Vào năm 2007, bà Trần Thị Mỹ H và ông Nguyễn Châu P tự nguyện chung sống với nhau, đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 110, quyển số 01/2008, ngày 01/9/2008. Sau khi kết hôn, bà H và ông P sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã qua lại từ đó đời sống hôn nhân không hạnh phúc và sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Trong quá trình chung sống, bà Trần Thị Mỹ H và ông Nguyễn Châu P có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Hồng T, sinh ngày 18/01/2010 hiện nay sống chung với bà H. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay bà Trần Thị Mỹ H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Châu P; về con chung: Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu gì.
- Đối với bị đơn ông Nguyễn Châu P: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông P nhưng ông P không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông P để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng ông P vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn ông Nguyễn Châu P đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đối với bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Trần Thị Mỹ H và ông Nguyễn Châu P đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Mỹ H; giao cháu Nguyễn Thị Hồng T cho bà Trần Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Châu P không cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bị đơn ông Nguyễn Châu P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông P.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Trần Thị Mỹ H và ông Nguyễn Châu P tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 110, quyển số 01/2008, ngày 01/9/2008 nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông P là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, bà H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà H xác định nguyên nhân do bất đồng ý kiến trong cuộc sống và thường xuyên cải vã nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và sau khi sống ly thân thì bà H và ông P không gặp nhau để hàn gắn tình cảm. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng bà H và ông P đoàn tụ với nhau nhưng ông P vẫn vắng mặt và bà H vẫn kiên quyết ly hôn với ông P vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng bà Trần Thị Mỹ H và ông Nguyễn Châu P đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc bà H xin ly hôn với ông P là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 89 và Điều 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Trần Thị Mỹ H được ly hôn với ông Nguyễn Châu P.
Về con chung: Bà Trần Thị Mỹ H xác định trong thời gian chung sống, bà H và ông Nguyễn Châu P có 01 người con chung là Nguyễn Thị Hồng T, sinh ngày 18/01/2010; bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên. Xét thấy, từ khi bà H và ông P sống ly thân cho đến nay cháu T do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án khi ghi nhận ý kiến thì cháu T có nguyện vọng sống chung với bà H. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu T, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao cháu T cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 92 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Ngoài ra, căn cứ vào Điều 94 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Nguyễn Châu P mà không ai được cản trở.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị Mỹ H không yêu cầu cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Mỹ H xác định trong thời gian chung sống bà H và ông Nguyễn Châu P không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Trần Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Châu P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 85, khoản 1 Điều 89, Điều 91, Điều 92 và Điều 94 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ H.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ H được ly hôn với ông Nguyễn Châu P.
1.2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Hồng T, sinh ngày 18/01/2010 cho bà Trần Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; ông Nguyễn Châu P không cấp dưỡng cho con chung. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Nguyễn Châu P mà không ai được cản trở.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Mỹ H xác định trong thời gian chung sống bà H và ông Nguyễn Châu P không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006897 ngày 24/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà Trần Thị Mỹ H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Châu P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Các bên đương sự; - VKSND huyện Long Phú; - Chi cục THADS huyện Long Phú; - UBND thị trấn Củ Chi; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Cẩm Nhung |