vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị Hồng H.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị Hồng H được ly hôn với anh Đồng Ngọc T. [2] Về nuôi con chung: Giao cháu Đồng Ngọc Đ, sinh ngày 16/10/2015 cho chị anh Đồng Ngọc Thăng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Vi Thị Hồng H xin ly hôn với anh Đồng Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị Hồng H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày 12 tháng 6 năm 2023
“V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Trang.

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Y Míp Niê.

2/ Ông Trần Đình Long.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/QĐST-DS ngày 02/6/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị Hồng H, sinh năm 1998. ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn 10, xã P, huyện K, tỉnh Đ.

Bị đơn: Anh Đồng Ngọc T, sinh năm 1992. (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn 10, xã P, huyện K, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên chị Vi Thị Hồng H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2016 chị và anh Đồng Ngọc T cưới nhau trên tinh thần tự nguyện yêu thương nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện K, tỉnh Đ. Cuộc sống chung hạnh phúc trong một thời gian ngắn thì đến năm 2019 hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, lý do tính tình không hợp nhau. Do đó không thể tiếp tục chung sống nên vợ chồng chị đã ly thân. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.

- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị có 01 con chung tên là Đồng Ngọc Đ, sinh ngày 16/10/2015. Hiện nay cháu Đ đang ở cùng với anh T nên chị đồng ý giao cháu Đ cho anh T nuôi, không trợ cấp nuôi con chung cho anh T và có quyền đi lại thăm nom con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Đồng Ngọc T tại phiên tòa hôm nay vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với anh T nhưng anh T đều vắng mặt nên Tòa án không thể lấy lời khai và hòa giải theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng nhận định về các hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Vi Thị Hồng H; Giao cháu Đồng Ngọc Đ, sinh ngày 16/10/2015 cho anh Đồng Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), chị H không cấp dưỡng nuôi con cho anh T.

Về tài sản đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo giấy chứng nhận kết hôn số 108/01/2016 của UBND xã P, huyện K, tỉnh Đ thì xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thị Hồng H và anh Đồng Ngọc T là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian ngắn chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình hai người không hợp nhau. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Từ năm 2019 đến nay hai người đã sống ly thân.

Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 28/3/2023 tại địa phương nơi vợ chồng chị H sinh sống xác nhận không biết được lý do mâu thuẫn của hai vợ chồng, tuy nhiên hiện nay vợ chồng chị H đã ly thân với nhau, không chung sống cùng nhau.

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị Hồng H, cho chị H ly hôn với anh T.

Về nuôi con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là cháu Đồng Ngọc Đ, sinh ngày 16/10/2015.

Quá trình giải quyết, chị H có nguyện vọng giao con cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. HĐXX xét thấy việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung là trách nhiệm của cả cha và mẹ. Tuy nhiên hiện nay cháu Đ đang sống cùng anh T, quá trình giải quyết vụ án, cháu Đ cũng có nguyện vọng tiếp tục ở với anh T. Căn cứ theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu Đồng Ngọc Đ, sinh ngày 16/10/2015 cho anh Đồng Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng về nội dung vụ án là có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí: Chị Vi Thị Hồng H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị Hồng H.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị Hồng H được ly hôn với anh Đồng Ngọc T.

[2] Về nuôi con chung: Giao cháu Đồng Ngọc Đ, sinh ngày 16/10/2015 cho chị anh Đồng Ngọc Thăng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi).

Chị Vi Thị Hồng H không cấp dưỡng nuôi con.

Không ai có quyền cản trở việc đi lại thăm nom con chung.

[3] Về án phí: Chị Vi Thị Hồng H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng (do ông Vi Văn K nộp thay) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0022188 ngày 01 tháng 3 năm 2023. Chị Vi Thị Hồng H đã nộp đủ.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ