vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Cà Nu E và anh Phạm Văn C.

Về việc nuôi con chung: 1. Chị Phạm Cà Nu E được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung Phạm Quốc V, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2010 và Phạm Quốc K, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị E và anh C"
  • Tòa quyết gì? Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Cà Nu E và anh Phạm Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20-3-2023
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXX-ST ngày 20 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Cà Nu E, sinh ngày 22 tháng 02 năm 1988; Nơi cư trú: Ấp BHH, xã TL, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Ấp BHH, xã TL, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 12 năm 2022, biên bản lấy lời khai ngày 17 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Phạm Cà Nu E trình bày: Chị và anh Phạm Văn C cưới nhau vào năm 2009, không có đăng ký kết hôn, hôn nhân do mai mối, sau khi cưới sống chung bên chồng. Thời gian đầu cuộc sống của vợ chồng hạnh phúc, đến cuối năm 2021 thì mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điễm thường xuyên cải nhau về tiền bạc và nhậu nhẹt còn đánh chị nhiều lần, đến đầu năm 2022 ly thân cho đến nay, nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh C. Về con chung: có 02 con chung Phạm Quốc V, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2010 và Phạm Quốc K, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2015, chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai ngày 08 tháng 3 năm 2023 và trong quá trình xét xử, bị đơn anh Phạm Văn C trình bày: Vào năm 2009, anh và chị Phạm Cà Nu E cưới nhau, hôn nhân do mai mối và tìm hiểu với nhau, không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới sống ở Campuchia, khoảng 04 năm nay về Việt Nam sinh sống. Thời gian đầu vợ chồng sống vui vẻ, hạnh phúc, nhưng khoảng 01 năm trở lại đây thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do chị Nu E không chăm lo cho gia đình, không lo cơmn nước cho chồng, con, sáng sớm là lấy xe về bên vợ ở, anh bực tức quá vợ chồng mới gây gỗ nhau; rồi anh thu hoạch lúa được tiền thì chị Nu E cũng lấy luôn cùng với chiếc xe tay ga. Vợ chồng không còn sống chung khoảng 07 - 08 tháng nay. Nay chị Nu E yêu cầu ly hôn, anh còn thương vợ và con, anh mong gắn bó lại, sống với nhau, không đồng ý ly hôn. Về con chung: Có 02 con chung Phạm Quốc V, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2010 và Phạm Quốc K, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2015, con muốn sống với ai thì sống, nhưng không cấp dưỡng. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai ngày 17 tháng 02 năm 2023 của cháu Phạm Quốc V trình bày: Ba mẹ ly hôn nguyện vọng con ở với mẹ.

Tại bản khai ngày 17 tháng 02 năm 2023 của cháu Phạm Quốc K trình bày: Ba mẹ ly hôn nguyện vọng con ở với mẹ.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Cà Nu E và anh Phạm Văn C; về con chung: Giao 02 con chung Phạm Quốc V, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2010 và Phạm Quốc K, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2015 cho chị Nu E tiếp tục nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: chị Phạm Cà Nu E và anh Phạm Văn C không có yêu cầu, nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Cà Nu E và anh Phạm Văn C tuy sống chung như vợ chồng với nhau từ năm 2009 đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định:

“Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”

Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.”

Do đó, tuy chị Nu E yêu cầu ly hôn và anh C không đồng ý ly hôn, nhưng do chị Nu E và anh C không có đăng ký kết hôn theo pháp luật quy định, nên Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận chị Nu E và anh C là vợ chồng, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này;...”

Về việc nuôi con: Chị Phạm Cà Nu E và anh Phạm Văn C thống nhất giao 02 con chung Phạm Quốc V, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2010 và Phạm Quốc K, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2015 cho chị Nu E tiếp tục nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, việc thoả thuận giữa chị Nu E và anh C là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình và cũng phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu, nên Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận này.

Về tài sản chung: Chị Phạm Cà Nu E và anh Phạm Văn C đã tự thoả thuận xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về nợ chung: Chị Phạm Cà Nu E và anh Phạm Văn C cho rằng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHI4 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Cà Nu E và anh Phạm Văn C.

2. Về việc nuôi con chung:

2.1. Chị Phạm Cà Nu E được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung Phạm Quốc V, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2010 và Phạm Quốc K, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2015.

2.2. Anh Phạm Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Cà Nu E chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004242 ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ