vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà D với bị đơn ông Nguyễn Trung T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà D được ly hôn ông Nguyễn Trung T. Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Trung H, sinh ngày 07/6/2011 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 29/10/2012 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà D với bị đơn ông Nguyễn Trung T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26-6-2023
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ – TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Hiển

2. Bà Phan Thị Hoài Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lành – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 34/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 34/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà D, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số nhà 96, Tổ 4, thôn X, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

(Bà D có mặt, ông Nguyễn Trung T vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng và tại phiên toà – nguyên đơn bà D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông Nguyễn Trung T đăng ký kết hôn năm 2014 tại Uỷ ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn đôi bên chung sống với nhau tại xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống giữa đôi bên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không thể hoà hợp được với nhau. Nay bà D thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Trung T.

Về con chung: Quá trình chung sống giữa bà D và ông Nguyễn Trung T có 02 con chung Nguyễn Trung H, sinh ngày 07/6/2011 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 29/10/2012. Khi ly hôn Drong Nai Cương yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông Tài cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà D xác nhận quá trình chung sống giữa bà và ông Tài không có tài sản chung và nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Trung T nhưng đều vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình. Bị đơn ông Nguyễn Trung T vắng mặt, không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà D về việc ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Trung T; giao 02 con chung Nguyễn Trung H, sinh ngày 07/6/2011 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 29/10/2012 cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên; về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung do đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Bà D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Trung T, yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chia tài sản chung nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Trung T có địa chỉ cư trú tại xã Lạc Lâm, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của đương sự: Hội đồng xét xử thấy rằng việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định cho ông Nguyễn Trung T nhưng đương sự vẫn cố tình vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01-2014 do Uỷ ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 14/02/2014 thì bà D và ông Nguyễn Trung T có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm nên quan hệ hôn nhân giữa các bên là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Xét tình trạng mâu thuẫn giữa các bên: Nguyên đơn bà D cho rằng quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, xuất phát từ những bất đồng trong quan điểm sống, không có sự hoà hợp, ông Thành không có trách nhiệm với gia đình, ham mê chơi bời nhậu nhẹt về đánh đập xúc phạm bà D và đập phá đồ đạc trong gia đình dẫn tới tình cảm vợ chồng rạn nứt. Bị đơn Nguyễn Trung Thành biết việc bà D khởi kiện đến Toà án đề nghị giải quyết ly hôn nhưng không đến Toà án để làm việc. Như vậy, ông Nguyễn Trung T đã từ chối quyền lợi của bản thân, cố tình vắng mặt gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bị đơn không thể hiện thiện chí mong muốn quay về đoàn tụ, cũng không có biện pháp cải thiện cuộc sống vợ chồng, cho nên đến nay mâu thuẫn giữa đôi bên kéo dài đã lâu nhưng vẫn không giải quyết được.

Tại phiên toà, bà D vẫn cương quyết ly hôn với ông Nguyễn Trung T. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn giữa đôi bên là có xảy ra trên thực tế, đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu ly hôn của bà D là có căn cứ, nên cần chấp nhận cho bà D được ly hôn với ông Nguyễn Trung T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Tại phiên toà, bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Trung H, sinh ngày 07/6/2011 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 29/10/2012. Để đảm bảo cho sự phát triển về mặt tâm sinh lý cũng như phù hợp với nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao 02 con chung cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên là phù hợp với Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà D không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét đến.

Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bà D xác nhận không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, bị đơn không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; các Điều 228, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà D với bị đơn ông Nguyễn Trung T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà D được ly hôn ông Nguyễn Trung T.

2. Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Trung H, sinh ngày 07/6/2011 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 29/10/2012 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.

Quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Buộc bà D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009198 ngày 15/2/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

5. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẦM

Cỡ chữ