vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

227, Điều 228; Điều 144 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều

51, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Chị Nguyễn Thị Phương D với BĐ: Anh Lê Quốc B"
  • Tòa quyết gì? 227, Điều 228; Điều 144 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/2023/HNGĐ-ST

HUYỆN ĐẮK MIL Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Ngày 27/4/2( Về việc “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Ngọc Thanh; Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tịnh và ông Nguyễn Duy Chấn - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy D – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà : Ông Phạm Văn Cường – Kiểm sát viên. Ngày 27/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 33/2023/TLST- HNGĐ ngày 23/02/2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12/4/2023, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương D, sinh năm 1992 - Có đơn xin xét xử vắng mặt; Địa chỉ: Thôn Đức Tr, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. - Bị đơn: Anh Lê Quốc B, sinh năm 1983 - Vắng mặt; Địa chỉ: Thôn Đức Tr, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. NỘI D VỤ ÁN: - Theo nội D đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương D trình bày: Chị Nguyễn Thị Phương D và anh Lê Quốc B kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 30/8/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Việc kết hôn và đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung gồm Cháu Lê Tuấn K, sinh ngày 09/3/2013 và cháu Lê Anh V, sinh ngày 09/01/2017. Hiện cháu K và cháu V đều đang ở cùng với chị D và do chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai cả.

Vợ chồng kết hôn và chung sống với nhau được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, lối sống, việc ai lấy làm, không quan tâm đến nhau, con cái và gia đình, nhiều lần tổ chức họp gia đình nhưng vẫn không thể hàn gắn được, vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2019. Do vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa, không còn tình cảm với nhau nên chị D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Quốc B. Chị Nguyễn Thị Phương D đề nghị Tòa án giải quyết những nội D sau: Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương D xin được ly hôn với anh Lê Quốc B. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Phương D xin được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Tuấn K, sinh ngày 09/3/2013 và cháu Lê Anh V, sinh ngày 09/01/2017 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và công nợ: Vợ chồng không có tài sản gì và không nợ ai cả nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Đối với bị đơn anh Lê Quốc B: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; các giấy triệu tập, thông báo về phiên hòa giải đoàn tụ, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải đối với anh Lê Quốc B, mặc dù đã biết được các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt nhưng anh Lê Quốc B vẫn vắng mặt mà không có lý do trong tất cả các lần triệu tập, phiên họp và hòa giải, xét xử tại Tòa án. Do anh Lê Quốc B vắng mặt nên không có lời khai cũng như không cung cấp được cho Tòa án chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và phản bác lại đối với yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, anh Lê Quốc B phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà xác định việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào quy định tại Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương D được ly hôn với anh Lê Quốc B. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Tuấn K, sinh ngày 09/3/2013 và cháu Lê Anh V, sinh ngày 09/01/2017 cho chị Nguyễn Thị Phương D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Toà án cũng không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về thủ tục tố tụng: [1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Phương D yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Lê Quốc B, đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. [1.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn, anh Lê Quốc B có đăng ký hộ khẩu và sinh sống tại thôn Đức Tr, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. [1.3]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Nguyễn Thị Phương D vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên chị D đã có đơn xin xét xử vắng mặt gửi đến Tòa án. Đối với anh Lê Quốc B đã được Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil triệu tập hợp lệ đến 02 lần (tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa) để tham gia phiên tòa nhưng anh Bảo vẫn vắng mặt mà không có lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. [2]. Về

nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương D và anh Lê Quốc B kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 30/8/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh Bảo là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận. Trong quá trình chung sống hai bên xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng đoàn tụ. Chị D và anh Bảo cũng đã sống ly thân với nhau từ năm 2019; giữa các bên không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc với nhau nữa. Chị D cũng thừa nhận, chị không còn tình cảm với anh Bảo, không muốn tiếp tục chung sống với anh Bảo và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống; mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục; chị D và anh Bảo không còn tin tưởng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, hôn nhân của chị D và anh Bảo thật sự không đạt được mục đích; qua xác minh tại địa phương thì được cung cấp thông tin vợ chồng chị Nguyễn Thị Phương D và anh Lê Quốc B có mâu thuẫn với nhau, vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ lâu. Do đó, Hội đồng xét xử cần căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Phương D. [2.2]. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Phương D có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Tuấn K, sinh ngày 09/3/2013 và cháu Lê

Anh V, sinh ngày 09/01/2017 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của các con chưa thành niên. Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì thì Tòa án quyết định giao con cho một bên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. 3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.” Hiện cả cháu Lê Tuấn K và cháu Lê Anh V đang ở với chị D. Kể từ khi hai vợ chồng sống ly thân (năm 2019) thì cháu K và cháu V ở với chị D, do chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; qua hỏi ý kiến của cháu K thì cháu K có nguyện vọng được ở với chị D; các cháu đang còn nhỏ nên cũng rất cần sự chăm sóc của người mẹ; chị D có đủ điều kiện về thu nhập, chỗ ở để chăm sóc, nuôi dưỡng con nên cần giao cháu K và cháu V cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành là phù hợp. [2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Phương D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản gì chung; trong thời gian chung sống, không vay mượn của ai hay cho ai vay mượn tài sản gì và các đương sự không ai có yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, giải quyết. [3]. Về án phí: Căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị Phương D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. [4]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228; Điều 144 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Phương D đối với anh Lê Quốc B về việc ly hôn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương D được ly hôn với anh Lê Quốc B (chấm dứt quan hệ hôn nhân). 2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Tuấn K, sinh ngày 09/3/2013 và cháu Lê Anh V, sinh ngày 09/01/2017 cho chị Nguyễn Thị Phương D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung, người trực tiếp nuôi con không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục các cháu. Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. 3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110 ; Điều 117 và Điều 119 Luật Hôn nhân gia đình 2014. 4. Về chia tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. 5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương D phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007118, ngày 22/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. 6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ