- Tranh chấp gì? án hình sự — "K PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự Xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HSST Ngày 18/5/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lực
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hà Giang và ông Lê Thanh Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Phúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 18/5/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình; xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2022/TLST-HS ngày 07/4/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2022/QĐXXST-HS ngày 05/5/2022 đối với bị cáo:
Vũ Văn K sinh năm 1983, tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú tổ dân phố H, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ Đức H và bà Lê Thị Đ; vợ Bùi Thị L và có 02 con. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Lịch sử bản thân ngày 07/5/2016 bị Công an thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 20/5/2016 bị Công an thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 23/5/2016 bị Công an thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 29/5/2016 bị UBND thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn là 06 tháng; ngày 11/3/2018 bị Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 14/3/2018 bị Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 19/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn là 15 tháng chấp hành xong ngày 26/6/2019; ngày 18/3/2020 bị Công an xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản chấp hành xong ngày 18/3/2020. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2022 đến ngày 25/01/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công tan tỉnh Ninh Bình cho đến nay; có mặt.
Người bị hại: Chị Phạm Thu V sinh năm 1970; địa chỉ thôn 10, xã A, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 22/01/2022 K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35H3-5754 đi trên đường Quốc lộ 10 theo hướng thành phố Ninh Bình về huyện Y, khi đi đến nhà V ở thôn 10, xã A, K thấy cửa nhà chị V đang mở trong nhà không có ai, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. K dựng xe mô tô ở ngoài cửa rồi đi bộ vào trong nhà chị V, tại gian bán hàng liền kề phòng khách nhà chị V có dựng xe mô tô biển kiểm soát 35K1-249.56, chìa khóa vẫn cắm ở ổ điện. K đến gần dùng tay bật, tắt khóa xe để xem nhà chị V có ai để ý không. Thấy không thấy ai, K đi vào phòng khách, bên trái có kê 01 chiếc ghế salon gỗ, trên ghế để 01 tập vở và 01 chiếc điện thoại Iphone 7 của chị V; K lấy chiếc điện thoại rồi quay ra ngoài cửa. Cùng thời điểm này anh Thái là chồng chị V từ bên ngoài về nhà bắt gặp K đang cầm chiếc điện thoại Iphone 7 trên tay, nên đã hô hoán bắt giữ K giao cho Cơ quan Công an. Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã tiếp nhận, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K, thu giữ của K 01 điện thoại Iphone 7, 01 xe mô tô biển kiểm soát 35H3-5754, 01 đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hữu Lý, 01 căn cước công dân mang tên Vũ Văn K và 01 mũ bảo hiểm.
Kết luận định giá tài sản số 03/KLĐG ngày 24/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y kết luận: Điện thoại Iphone 7 tại thời điểm ngày 22/01/2022 trị giá 2.933.000 đồng.
Cáo trạng số 50/CT-VKS-YK ngày 01/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo K như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo K từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Trả lại cho bị cáo K 01 căn cước công dân mang tên Vũ Văn K, 01 xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN biển kiểm soát 35H3-5754 và đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hữu Lý. Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm. Bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo K thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung của Cáo trạng là đúng. Nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại, người làm chứng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; nên hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng pháp luật. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng; phù hợp với các tài liêu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, hành vi của bị cáo và tài sản chiếm đoạt, nên có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 18 giờ ngày 22/01/2022 tại thôn 10, xã A. K đã lén lút vào nhà chị V lấy và chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 của chị V. Hành vi của bị cáo K là trái pháp luật, đã xâm phạm đến tài sản của người khác. Với giá trị chiếc điện thoại là 2.933.000 đồng, nên bị cáo K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy đinh về tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo K không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo “Thành khẩn khai báo” theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tài sản chiếm đoạt và nhân thân của bị cáo, cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ, nên Hội đồng xét xử có giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo.
Về phạt bổ sung, xét bị cáo K không có tài sản, nên không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Chị V đã nhận lại tài sản và không có yêu gì, nên Tòa án không xem xet giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã thu giữ gồm 01 điện thoại Iphone 7; 01 căn cước công dân mang tên Vũ Văn K; 01 mũ bảo hiểm; 01 xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN biển kiểm soát 35H3-5754 và đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hữu Lý.
- Điện thoại Iphone 7 là tài sản của chị V, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị V là đúng pháp luật.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN biển kiểm soát 35H3-5754 và đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hữu Lý, kết quả điều tra xác định là tài sản của K đã mua; K sử dụng để đi phạm tội, nên tích thu sung quỹ Nhà nước.
- Chiếc mũ bảo hiểm là tài sản của bị cáo K, bị cáo K không yêu cầu trả lại, tài sản không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 căn cước công dân mang tên Vũ Văn K, trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo K bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Vũ Văn K 09 (chín) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/01/2022.
3. Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN biển kiểm soát 35H3-5754 màu sơn xanh, số máy 100-10009998, số khung 045DM007998 và đăng ký xe mô tô, xe máy số 057155 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Bình cấp mang tên Lê Hữu Lý.
- Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm, loại nửa đầu, màu xanh.
- Trả lại cho bị cáo K 01 căn cước công dân số 037083018723 mang tên Vũ Văn K, do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trất tự xã hội cấp ngày 10/8/2021.
Toàn bộ vật chứng có đặc điểm tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/4/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Y với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Vũ Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình - VKSND tỉnh Ninh Bình - VKSND huyện Y - Công an huyện Y - Bị cáo, - Người bị hại; - Người liên quan - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Lực |