vanban.org

Bản án 26/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 04/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TUYÊN BỐ: Bị cáo Lê Đặng T, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

XỬ PHẠT: Lê Đặng T 02(Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Tiếp tục giao xe mô tô biển kiểm soát 86C1 – 332.59 hiệu SYM, loại Angel, số máy VDAE – H008042, số khung 11LHCH008042 cho Cơ quan CSĐT Công an huyện H tạm giữ để xác minh làm rõ xử lý theo quy đị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LE DANG T - TROM - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? TUYÊN BỐ: Bị cáo Lê Đặng T, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/HSST
Ngày: 04/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ÔNG LÊ VĂN XÔ.

Các Hội thẩm nhân dân.

ÔNG LA MINH CÔNG.

ÔNG HOÀNG VÂN.

Thư ký phiên tòa: BÀ NGUYỄN THỊ THANH NHI – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: ÔNG NGUYỄN VĂN BĂC – kiểm sát viên.

Ngày 04/4/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2022/HSST ngày 07/3/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HS ngày 21/3/2022 đối với bị cáo.

Lê Đặng T – 1986. Tên gọi khác: không; sinh tại: Bình Thuận.

Nơi ĐKHKTT và chổ ở hiện nay: khu phố A, phường B, thành phố C, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không.

Trình độ văn hoá: 10/12,

Nghề nghiệp: không ổn định.

Con ông: Lê Văn B (chết) và bà: Đặng Thị Q - 1957.

Gia đình bị cáo có 04 anh, chị em; lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1992, bị cáo là con thứ ba.

Vợ: Lê Hoàng Kim Y – 1990(ly hôn). Có 02 người con: lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2011.

Tiền án: Bản án số 81/2019/HSPT ngày 16/9/2019 của TAND tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 (Chín) tháng tù, tội: “trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/6/2020.

Tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 25/5/2011 bị Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Ngày 12/12/2012 bị Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Ngày 04/3/2022 bị Công an thành phố C khởi tố Lê Đặng T về hành vi: “Trộm cắp tài sản”.

- Bị cáo bị áp dụng lệnh “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; đến ngày 23/3/2022 bị cáo chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 60/QĐ-TA ngày 02/11/2021 của TAND thành phố C, tỉnh Bình Thuận.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

- Bị hại:

Ông Nguyễn Văn N – 1979. Trú: thôn V, xã J, huyện H, tỉnh Bình Thuận(vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/Ông NLQ 1 – 1970. Trú: Khu phố K, phường Z, thành phố C, tỉnh Bình Thuận(vắng mặt).

2/Ông NLQ 2 – 1985. Trú: khu phố P, phường Lạc Đạo, thành phố C, tỉnh Bình Thuận(có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đối với hành vi của bị cáo Lê Đặng T được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 13/5/2021 NLQ 2, Lê Đặng T trong lúc ngồi nhậu với nhau, thì NLQ 2 nói với T đến nhà ông L ở ngã hai xin tiền, T đồng ý. Sau đó NLQ 2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86C1 – 332.59 (là xe của ông NLQ 1 – 1970, trú khu phố 5, phường Z, thành phố C, tỉnh Bình Thuận, là cậu của NLQ 2 cho NLQ 2) chở T lên nhà ông L, nhưng khi đến thì nhà ông L đã đóng cửa đi ngủ, nên NLQ 2 điều khiển xe chở T về lại, khi đến cây số 6 thì NLQ 2 nhìn thấy bên tay phải có nhà anh Nguyễn Nhật H thuộc thôn V, xã J, huyện H đang xây dựng (do anh Nguyễn Văn N – 1979 làm chủ thầu xây dựng) có để một số dàn giáo nên NLQ 2 dừng xe lại và nói với T vào lấy trộm, T đồng ý. T và NLQ 2 đi vào nhà lấy được 05 chân dàn giáo, 04 thanh chéo và 01 đầm tất cả điều bằng kim loại. T và NLQ 2 chất lên xe mô tô, T ngồi sau giữ còn NLQ 2 điều khiển xe chạy về hướng C thì bị tổ tuần tra Công an xã phát hiện kiểm tra và đưa toàn bộ tang vật cùng các đối tượng về trụ sở Công an xã làm việc.

Tại Kết luận định giá số 27/2021-HĐĐG ngày 03/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: 05 chân dàn giáo, và 01 đầm nền trị giá 2.537.500 đồng (Hai triệu năm trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm đồng).

Sau đó NLQ 2 bỏ trốn khỏi địa phương Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra quyết định truy nã, khi bắt được sẽ phục hồi giải quyết sau.

* Vật chứng của vụ án:

Cơ quan CSĐT Công an huyện H thu giữ:

- 03 chân dàn giáo nguyên cao 1,7m, ngang 1,3m; 02 chân dàn giáo lỡ cao 90cm, ngang 1,3m; 04 thanh chéo (02 cặp) mỗi thanh dài 02m; 01 đầm nền bằng kim loại kích thước 18 x 18cm, cán đầm dài 1,5m. Quá trình điều tra đã xác định là tài sản của anh Nguyễn Văn N. Ngày 13/02/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra quyết định và trả lại toàn bộ tài sản cho anh Nguyễn Văn N.

- Xe mô tô biển kiểm soát 86C1 – 332.59 hiệu SYM, loại Angel, số máy VDAE – H008042, số khung 11LHCH008042. Quá trình điều tra chưa chứng minh được chủ sỡ hữu, nên tiếp tục giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện H tạm giữ để xác minh làm rõ xử lý theo quy định.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Văn N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm phần dân sự.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSHTN-HS ngày 04/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố Lê Đặng T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau: Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Đặng T.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Lê Đặng T, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt: Lê Đặng T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.

Vật chứng vụ án:

Tiếp tục giao xe mô tô biển kiểm soát 86C1 – 332.59 hiệu SYM, loại Angel, số máy VDAE – H008042, số khung 11LHCH008042 cho Cơ quan CSĐT Công an huyện H tạm giữ để xác minh làm rõ xử lý theo quy định.

Phần dân sự: Xong

Tại phiên tòa bị cáo thống nhất quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa người có quyền lợi thống nhất quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm, không yêu cầu gì về phần dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận. Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận. Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy trình của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đặng T khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Khoảng 22 giờ ngày 13/5/2021 NLQ 2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86C1 – 332.59 chở Lê Đặng T đến nhà ông S ở ngã hai xin tiền, nhưng khi đến thì nhà ông S đã đóng cửa đi ngủ, nên NLQ 2 điều khiển xe chở T về lại, thì NLQ 2 nhìn thấy nhà anh Nguyễn Nhật H thuộc thôn V, xã J, huyện H đang xây dựng (do anh Nguyễn Văn N làm chủ thầu xây dựng) có để một số dàn giáo nên NLQ 2 dừng xe lại và rủ T vào lấy trộm, T đồng ý. T và NLQ 2 đi vào lấy được 05 chân dàn giáo, 04 thanh chéo và 01 đầm nền chất lên xe mô tô, T ngồi sau giữ còn NLQ 2 điều khiển xe chạy về hướng C thì bị tổ tuần tra Công an xã phát hiện kiểm tra và đưa toàn bộ tang vật cùng các đối tượng về trụ sở Công an xã làm việc. Sau đó NLQ 2 bỏ trốn khỏi địa phương Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra quyết định truy nã.

Tại Kết luận định giá số 27/2021-HĐĐG ngày 03/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: 05 chân dàn giáo, và 01 đầm nền trị giá 2.537.500 đồng (Hai triệu năm trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm đồng).

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo Lê Đặng T là cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Hành vi của bị Lê Đặng T là cố ý, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như nội dung cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, bản thân vừa chấp hành xong hình phạt tù về tội: “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, để có tiền tiêu sài cho bản thân, bị cáo đã cùng với đồng bọn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp, thể hiện bị cáo xem thường pháp luật, nên cần đưa ra xét xử nghiêm bị cáo, để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội, góp phần lập lại tình hình trật tự trị an ở địa phương.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như mức độ phạm tội của bị cáo để có mức hình phạt thích hợp tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo Lê Đặng T có 01 tiền án về tội: “Trộm cắp tài sản”, đến nay chưa được xóa án tích, nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc trường hợp “tái phạm” đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần áp dụng cho bị cáo.

Đây là vụ án có đồng phạm. Trong đó NLQ 2 là người rủ Lê Đặng T đồng thời cùng với bị cáo T trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên khi thực hiện không có sự phân công vai trò, bàn bạc nên đồng phạm giản đơn.

Vật chứng vụ án:

Cơ quan CSĐT Công an huyện H thu giữ:

- 03 chân dàn giáo nguyên cao 1,7m, ngang 1,3m; 02 chân dàn giáo lỡ cao 90cm, ngang 1,3m; 04 thanh chéo (02 cặp) mỗi thanh dài 02m; 01 đầm nền bằng kim loại kích thước 18 x 18cm, cán đầm dài 1,5m. Quá trình điều tra đã xác định là tài sản của anh Nguyễn Văn N. Ngày 13/02/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra quyết định và trả lại toàn bộ tài sản cho anh Nguyễn Văn N. Xét thấy đã xử lý xong.

- Xe mô tô biển kiểm soát 86C1 – 332.59 hiệu SYM, loại Angel, số máy VDAE – H008042, số khung 11LHCH008042. Quá trình điều tra chưa chứng minh được chủ sỡ hữu, nên tiếp tục giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện H tạm giữ để xác minh làm rõ xử lý theo quy định.

Trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bị hại Nguyễn Văn N vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ thể hiện bị hại Nguyễn Văn N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm phần dân sự và đề nghị xét xử bị cáo theo pháp luật.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

TUYÊN BỐ: Bị cáo Lê Đặng T, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

XỬ PHẠT: Lê Đặng T 02(Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Tiếp tục giao xe mô tô biển kiểm soát 86C1 – 332.59 hiệu SYM, loại Angel, số máy VDAE – H008042, số khung 11LHCH008042 cho Cơ quan CSĐT Công an huyện H tạm giữ để xác minh làm rõ xử lý theo quy định.

Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Đặng T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04/4/2022). Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ