- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn N phạm tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HS-ST Ngày 21- 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền.
Thẩm phán: Ông Đỗ Tuấn Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lèo Thị Chan;
Ông Phạm Văn Chung;
Bà Trịnh Lan Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tùng Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Đào Văn N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975 tại thành phố A, tỉnh A; Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Đào Văn B và bà Đào Thị V (đã chết); có vợ là Lê Thị H (là bị hại trong vụ án) và 01 con sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 08/8/2022 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lò Văn Phanh – Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Bị hại: Chị Lê Thị H, sinh năm 1976. Địa chỉ: Bản T, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị Đào Thị D, sinh năm 1969. Địa chỉ: Bản T, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Có mặt.
+ Anh Hà Văn V, sinh năm 1988. Địa chỉ: Bản T, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Có mặt.
+ Anh Phạm Văn G, sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản Chiềng Thi, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Lê Thị H làm nghề buôn bán ở trung tâm xã C nên thường xuyên về muộn, bị cáo Đào Văn N là chồng chị H nghi ngờ vợ có mối quan hệ bất chính bên ngoài. Buổi trưa ngày 30/7/2022, hai vợ chồng xảy ra tranh cãi, khi lên giường ngủ N và chị H vẫn tiếp tục to tiếng nên N dậy đi vào bếp lấy một con dao mũi bằng dài 35cm mục đích giết chị H sau đó tự tử. Khi quay vào giường, thấy chị H đang ngủ trên giường, N vung dao nhằm vào mặt chị H chém một nhát. Chị H tỉnh dậy dùng chân đạp N ra rồi kêu cứu, N cầm dao chém liên tiếp vào đầu, mặt, tay, chân của chị H. Đến khi thấy chị H không có phản ứng gì, N tưởng chị H đã chết nên đi ra cửa bếp dùng dao tự cứa vào cổ để tự sát nhưng không chết. N bỏ dao vào thùng xốp rồi ra chuồng bò ngồi. Lúc đó anh Phạm Văn G, sinh năm 1992, trú tại: Bản Chiềng Thi, xã C, huyện Yên Châu (là cháu của N) đi qua, N bảo với G “Tao chém chết mợ mày rồi, mày vào mà xem”. G vào trong nhà nhìn thấy chị H đang nằm bất động trên giường trong phòng ngủ, trên người (đầu, mặt, tay, chân) có nhiều vết thương đang chảy máu, G mở cửa gọi người đến đưa chị H đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Yên Châu, sau đó được chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La điều trị còn Đào Văn N đến Công an xã C, huyện Yên Châu đầu thú.
Quá trình giải quyết Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường: Xác định hiện trường là nhà ở của vợ chồng bị cáo Đào Văn N, trú tại Bản T, xã C, huyện Yên Châu; nhà xây cấp 4, tường xây gạch, lợp ngói, trần nhựa, nền lát gạch hoa có diện tích 10,5 x 4,3m. Tại hiện trường (trên giường và nền nhà) phát hiện nhiều vết màu nâu có dạng nhỏ giọt và vũng (xác định là vết máu của nạn nhân), tại hộp xốp trong bếp phát hiện 01 con dao mũi bằng dài 35cm (lưỡi dài 22cm, chuôi bằng gỗ dài 13cm), trên lưỡi dao có dính nhiều dịch màu nâu đã khô xác định là hung khí bị cáo sử dụng để gây án. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ con dao để tiến hành giám định.
Bị hại là chị Lê Thị H, sinh năm 1976, trú tại: Bản T, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La sau khi bị Đào Văn N chém đã được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Yên Châu từ ngày 30/7/2022 đến ngày 31/7/2022 sau đó được chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ ngày 31/7/2022 đến ngày 11/8/2022.
Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể chị Lê Thị H phát hiện 43 vết thương cụ thể: Tại vùng đầu có 13 vết thương trong đó có 01 vết thương tại thái dương phải dài 15cm nhìn thấy xương hộp sọ bị mẻ; vai trái có 04 vết thương; ngực có 10 vết thương trong đó có 01 vết thương sâu khoảng 04cm; tay phải có 04 vết thương làm gãy xương cổ tay; tay trái có 03 vết thương tại mặt sau khuỷu và cánh tay gây đứt cơ, đứt thần kinh trụ; cẳng tay phải có 04 vết thương làm gãy 02 xương cẳng tay, đứt toàn bộ xương cẳng tay, đứt toàn bộ gân; bàn tay trái có 01 vết thương dài 12cm đứt toàn bộ gân gấp, đứt thần kinh giữa, thần kinh trụ, động mạch trụ; bàn tay phải gãy xương đốt bàn 3, 4, 5; gối trái có 02 vết thương đứt toàn phần gân bánh chè; bàn chân phải có 01 vết thương khoảng 03cm.
Quá trình điều tra bị cáo Đào Văn N khai nhận chỉ nhớ chém nhát đầu tiên vào vùng trán của chị Lê Thị H còn các vết chém khác N không nhớ thứ tự, vị trí các vết chém mà chỉ nhằm vào vùng đầu, mặt để chém. Do Lê Thị H dơ tay, co chân lên chống đỡ nên đã bị Đào Văn N chém vào tay và chân của chị Lê Thị H nên Đào Văn N không thể tiến hành thực nghiệm điều tra được.
Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định tỷ lệ thương tật đối với chị Lê Thị H, đồng thời giám định ADN lưu giữ trên con dao thu tại hiện trường và giám định tình trạng sức khỏe tâm thần của bị cáo Đào Văn N.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 355/KL-TTPY ngày 02/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La xác định chị Lê Thị H: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 77% (bảy mươi bảy phần trăm). Chấn thương vùng đầu, mặt, ngực, tay, chân của chị Lê Thị H do tác động trực tiếp của vật cứng có cạnh sắc gây nên.
Tại Bản kết luận giám định số 5214/KL-KTHS ngày 31/8/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an xác định:
+ Trên lưỡi dao gửi giám định có bám dính máu người. Phân tích AND từ vết máu người trên lưỡi dao có ADN của Đào Văn N và Lê Thị H.
+ Trên chuôi dao gửi giám định có bám dính tế bào của Đào Văn N.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 119/KL-GĐPY ngày 31/8/2022 của Trung tâm pháp y miền núi phía bắc xác định:
+ Đào Văn N, sinh năm 1975, trú tại: Bản T, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La không bị bệnh tâm thần.
+ Tại thời điểm thực hiện hành vi ngày 30/7/2022, Đào Văn N không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 con dao dài 35cm và mẫu tế bào niêm mạc miệng của Lê Thị H và mẫu móng tay thu của Đào Văn N.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị H không yêu cầu bị cáo Đào Văn N bồi thường.
Tại Cáo trạng số 138/CT-VKS-P2 ngày 25/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Đào Văn N về tội Giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và khai nhận hành vi phạm tội.
Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đào Văn N và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đào Văn N phạm tội Giết người.
Xử phạt bị cáo Đào Văn N từ 15 năm đến 16 năm tù.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bị cáo Đào Văn N phải bồi thường nên không xem xét về trách nhiệm dân sự.
Về án phí: Bị cáo Đào Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Lời bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo ông Lò Văn Phanh: Luật sư nhất trí với nội dung cáo trạng, tội danh, Điều luật Viện kiểm sát đã đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo do thể chất và tinh thần của bị cáo từ nhỏ đã không được nhanh nhẹn như người khác, bị cáo bị tai nạn nên bị chấn thương não không nhận thức được việc làm của mình. Sau khi sự việc xảy ra đã ra tự thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có mẹ đẻ là người có công với cách mạng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điều 54 xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của Luật sư và không có ý kiến khác.
Bị hại tha thiết đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, Luật sư bào chữa, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Đào Văn N:
Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa đồng nhất với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, các bản ảnh, các kết luận giám định; phù hợp với nội dung, diễn biến của vụ án, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Do ghen tuông, nghi ngờ vợ là chị Lê Thị H có mối quan hệ bất chính bên ngoài nên Đào Văn N đã nảy sinh ý định giết chị H sau đó tự tử. Buổi trưa ngày 30/7/2022, thấy chị H đang nằm ngủ trên giường, Đào Văn N lấy một con dao mũi bằng dài 35cm vung dao chém vào mặt chị H, sau khi chị H tỉnh dậy đạp N ra và kêu cứu thì N cầm dao chém liên tiếp vào đầu, mặt, tay, chân của chị H. Đến khi thấy chị H không có phản ứng gì, N tưởng chị H đã chết nên đã đi ra cửa bếp dùng dao tự cứa vào cổ để tự tử nhưng không chết. Hành vi của bị cáo dẫn đến chị Lê Thị H bị tổn hại sức khỏe 77%.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 119/KL-GĐPY ngày 31/8/2022 của Trung tâm pháp y miền núi phía bắc xác định:
+ Đào Văn N, sinh năm 1975, trú tại: Bản T, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La không bị bệnh tâm thần.
+ Tại thời điểm thực hiện hành vi ngày 30/7/2022, Đào Văn N không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
Như vậy, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đào Văn N có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, biết được hành vi của minh là nguy hiểm gây hậu quả chết người nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi dùng dao chém liên tiếp vào vùng trọng yếu trên cơ thể chị H nhằm ý muốn tước đoạt mạng sống của bị hại nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đã thực hiện.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Đào Văn N về tội Giết người với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người được pháp luật hình sự bảo vệ, thể hiện tính côn đồ, hung hãn, coi thường pháp luật, bị cáo thực hiện hành vi với mức độ quyết liệt, mong muốn hậu quả xảy ra, hậu quả chị H không chết là nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi đó gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương, cần có mức hình phạt nghiêm khắc mới đảm bảo biện pháp giáo dục, cải tạo và răn đe phòng ngừa chung, phù hợp với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đào Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do mẹ đẻ của bị cáo là bà Đào Thị Giá được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, bị cáo là người phạm tội ra đầu thú và bị hại có đơn tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, hành vi của bị cáo chưa gây hậu quả làm chết người nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, cần áp dụng khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không giải quyết phần dân sự.
Về hình phạt bổ sung: “cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm” theo quy định tại khoản 4 Điều 123 Bộ luật Hình sự: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn, bị cáo là người được sinh ra lớn lên và cư trú ổn định, hiện nay không có nơi cư trú nào khác, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 con dao xét thấy đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và một số mẫu vật giám định còn lại, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Đào Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đào Văn N phạm tội Giết người.
Xử phạt bị cáo Đào Văn N 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/8/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của bị hại chị Lê Thị H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
3. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng, bản rộng 08cm có một lưỡi sắc, dao dài 35cm, lưỡi dao dài 22cm, chuôi bằng gỗ dài 13cm, trên thân dao có chữ “Nhíp” và phần còn lại sau giám định của mẫu tế bào niêm mạc miệng thu của Lê Thị H và mẫu móng tay nghi thu của Đào Văn N (được niêm phong trong 01 hộp vật chứng còn nguyên niêm phong).
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Đào Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/12/2022)./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Cục THADS tỉnh Sơn La; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV - THA; - Lưu HS-AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Tòng Thị Hiền |