vanban.org

Bản án 26/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: LTC, 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 03 năm 2021. sung năm 2021 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LTC - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: LTC, 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ HCM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/HS-ST
Ngày: 23-02-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HCM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Đinh Kim Hoàng.

Nghề nghiệp: Giáo viên hưu trí.

2/ Bà Võ Thanh Nga.

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Đăng Huy là Thư ký Toà án nhân dân Quận 4,

Thành phố HCM.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố HCM tham gia phiên

toà: Ông Đoàn Quốc Sinh - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố

HCM xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2022/HSST ngày 25 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2022 đối với:

- Bị cáo:

LTC, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2003 tại Thành phố HCM; HKTT: 254/66A

BVĐ, Phường H, Quận T, Thành phố HCM; nơi cư trú: 5/7 (Số mới 2020/63) Tổ T, khu phố B, HTP, Thị trấn NB, Huyện NB, Thành phố HCM; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông TTV và bà LTTT; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam ngày 30/3/2021 “có mặt”.

Bị hại:

Bà NTNA, sinh năm 1947 “vắng mặt”.

Địa chỉ: 217C BVĐ, Phường N, Quận T, Thành phố HCM.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông NDT, sinh năm 1990 “vắng mặt”.

Địa chỉ: 64/77/2 NK, Phường H, Quận T, Thành phố HCM.

2/ Bà ĐTH “vắng mặt”.

Địa chỉ: 229/23 TLV, Phường MH, Quận T, Thành phố HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 08 phút ngày 31/01/2021, do không có tiền tiêu xài nên

LTC điều khiển xe gắn máy hiệu Honda, biển số 59L2-350.92 chở đối tượng tên PMH (chưa rõ lai lịch) đi từ huyện NB đến Quận 4, Thành phố HCM tìm kiếm tài sản sơ hở của người đi đường để chiếm đoạt. Khi cả hai đến trước hẻm 224 BVĐ, Phường H, Quận T, Thành phố HCM thì phát hiện NTNA đang đi bộ hướng từ đường BVĐ vào trong hẻm, trên tay trái có đeo giỏ xách màu đen nên LTC rủ PMH cướp giật và được H đồng ý. Để thực hiện ý định, LTC điều khiển xe gắn máy chạy vào trong hẻm 224 BVĐ, Phường H, Quận T, Thành phố HCM và chạy qua khỏi chị NTNA, sau đó quay đầu xe chạy ngược ra hướng đường BVĐ thì thấy chị NTNA đang đi bộ ngược trở ra hướng đường BVĐ nên chạy theo. Khi chị NTNA đi đến bên hông nhà số 229 BVĐ, Phường H, Quận T, Thành phố HCM thì LTC điều khiển xe gắn máy chạy áp sát từ phía sau lưng chị NTNA và dùng tay trái giật giỏ xách. Sau khi giật được tài sản, LTC chở PMH tẩu thoát ra đường BVĐ, Quận T, Thành phố HCM. Khi cả hai chạy đến hẻm 122 TĐ, Quận T, Thành phố HCM thì LTC dừng xe để kiểm tra giỏ xách thì phát hiện bên trong có: 01 Ipad màu trắng bị vỡ một góc màn hình, 01 túi xách nhỏ bằng vải màu xanh, 01 mắt kính cận và 01 lọ thuốc hiệu Aspirin-81. LTC lấy Ipad đưa cho PMH giữ, còn các đồ vật khác thì vứt bỏ trong hẻm 122 TĐ, Quận T, Thành phố HCM. Sau đó, LTC chở PMH đến nhà số 64/77/2 NK, Phường H, Quận T, Thành phố HCM để bán Ipad cho NDT được số tiền 500.000 đồng. LTC đưa PMH 100.000 đồng, còn lại 400.000 đồng thì tiêu xài hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐGTS ngày 29/03/2021 của Hội

đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 4, Thành phố HCM kết luận:

- 01 (một) giỏ xách bằng vải màu đen có kích thước ngang, cao là 30cmx50cm,

có tay cầm bằng vải màu đen, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 31/01/2021 là không xác định được giá trị.

- 01 (một) túi xách chất liệu bằng vải màu xanh, có tay cầm kích thước cao,

ngang là 20cmx20cm, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 31/01/2021 là không xác định được giá trị.

- 01 (một) Ipad màu trắng, mặt kính màn hình bị bể ở góc bên trái, Imei:

990001348280199, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 31/01/2021 là 500.000 đồng.

- 01 (một) mắt kính cận, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày

31/01/2021 là không xác định được giá trị.

Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố HCM, LTC đã thừa nhận

toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 145/CT-VKS ngày 20/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân

Quận 4, Thành phố HCM truy tố bị cáo LTC về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm

nhẹ một phần hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố HCM giữ nguyên quan

điểm truy tố đối với bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt: LTC từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam về tội “Cướp

giật tài sản”. Về vật chứng vụ án: Đề nghị trả lại LTC 01 (một) áo thun màu đen (sọc caro màu trắng tay áo) nhãn hiệu Gin’s, 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, 01 (một) quần Jean lửng màu xanh; Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố HCM đăng báo tìm chủ sở hữu đối với 01 (một) biển số xe gắn máy 59L2.350.92. Trong thời hạn 06 (sáu) tháng kể từ ngày đăng báo, nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu tiêu hủy; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe gắn máy kiểu dáng Honda Dream, số khung: RNDDCGTND51-201488, số máy: VDGZS150FMG-N-20001488; tiếp tục lưu giữ 01 (một) đĩa CD-R ký hiệu NEO ghi nhận hình ảnh LTC thực hiện hành vi phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh

tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Điều

tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại Cơ quan điều tra cung như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ

hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 12 giờ 08 phút ngày 31/01/2021, tại bên hông nhà số 229 BVĐ, Phường H, Quận T, Thành phố HCM, LTC điều khiển xe gắn máy chở PMH (chưa rõ lai lịch) cướp giật một giỏ xách bằng vải màu đen, bên trong có 01 (một) Ipad của chị NTNA có giá trị theo kết luận định giá là 500.000 đồng và một số vật dụng khác. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình

hình trật tự trị an xã hội, làm xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác. Bị cáo biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo cung như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội.

Đối với đối tượng đi cùng do bị cáo khai nhận tên là PMH, qua xác minh tại địa

phương thì H không có mặt tại địa phương. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của bị cáo thì chưa có cơ sở xác định PMH tham gia cướp giật cùng với LTC nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 4, Thành phố HCM đã ra thông báo truy tìm, đồng thời trích hồ sơ tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với NDT, quá trình điều tra xác định không biết Ipad do LTC bán là do

phạm tội mà có nên đã tự nguyện giao nộp Ipad cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 4, Thành phố HCM để phục vụ điều tra. Do đó, không có cơ sở để xử lý.

Về nhân thân:

Bị cáo không có tiền án, không có tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa,

bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo phạm tội khi mới 17 tuổi 03 tháng nên được áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Tài sản bị chiếm đoạt là 01 (một) Ipad màu trắng bị vỡ một góc màn hình, đã

qua sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố HCM đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho bà NTNA. Bà NTNA đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự. Quá trình chuẩn bị xét xử, sau khi được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bị hại bà NTNA vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trong trường hợp bà NTNA có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự thì được giải quyết bằng vụ án khác.

Đối với 01 (một) túi xách nhỏ bằng vải màu xanh, 01 (một) mắt kính cận và 01

(một) lọ thuốc hiệu Aspirin-81, bị cáo đã vứt bỏ trong hẻm 122 TĐ, Quận T, Thành phố HCM nên không thu hồi được.

Về xử lý vật chứng:

- Thu giữ của LTC 01 (một) áo thun màu đen (sọc caro màu trắng tay áo) nhãn

hiệu Gin’s, 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, 01 (một) quần Jean lửng màu xanh. Xét, đây là tài sản cá nhân nên trả lại.

- Thu giữ của LTC 01 (một) xe gắn máy kiểu dáng Honda Dream, biển số

59L2-350.92, số khung: RNDDCGTND51-201488, số máy: VDGZS150FMG-N-20001488.

Quá trình điều tra thể hiện: Tại Kết luận giám định số 3744/KLGĐ-X(Đ3) ngày

26/05/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố HCM thì: Số khung không thay đổi. Số máy không thay đổi và số khung, số máy không có dữ liệu lưu trữ. Tuy nhiên, số khung và số máy trên không phải của xe gắn máy biển số 59L2-350.92. Tại PH trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an Quận 4, Thành phố HCM thì biển số 59L2.350.92 do bà ĐTH đứng tên chủ sở hữu, xe có số khung RLHJF24029Y039227, số máy JF24E0044060. Tại Kết luận giám định số 3287/KLGĐ-TT ngày 26/05/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố HCM thì biển số xe cần giám định 59L2.350.92 là thật.

Tại phiên tòa, bị cáo LTC khai nhận đã mua xe gắn máy biển số 59L2.350.92

của đối tượng tên Dung (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 1.000.000 đồng nhưng không làm giấy tờ mua bán xe và cung không làm thủ tục trước bạ sang tên.

Hội đồng xét xử xét thấy:

- Đối với biển số xe gắn máy 59L2.350.92, quá trình điều tra thể hiện chủ sở

hữu bà ĐTH không có mặt tại địa phương, đã bán nhà vào năm 2012 và đi đâu không rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố HCM đăng báo tìm chủ sở hữu đối với 01 (một) biển số xe gắn máy 59L2.350.92. Trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày đăng báo, nếu không xác định được chủ sở hữu thì giao biển số xe trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố HCM tiếp tục điều tra và xử lý theo thẩm quyền.

- Đối với 01 (một) xe gắn máy kiểu dáng Honda Dream, số khung:

RNDDCGTND51-201488, số máy: VDGZS150FMG-N-20001488 có nguồn gốc không rõ ràng và do bị cáo sử dụng để làm phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, trong hồ sơ vụ án lưu giữ 01 (một) đĩa CD-R ký hiệu NEO ghi nhận

hình ảnh LTC thực hiện hành vi phạm tội. Xét, đây là chứng cứ của vụ án nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, Điều 91,

khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021.

Xử phạt: LTC, 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 03 năm 2021.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ

sung năm 2021 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

- Trả lại LTC 01 (một) áo thun màu đen (sọc caro màu trắng tay áo) nhãn hiệu

Gin’s, 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, 01 (một) quần Jean lửng màu xanh.

- Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố HCM đăng báo tìm

chủ sở hữu đối với 01 (một) biển số xe gắn máy 59L2.350.92. Trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày đăng báo, nếu không xác định được chủ sở hữu thì giao biển số xe trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố HCM tiếp tục điều tra và xử lý theo thẩm quyền.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe gắn máy kiểu dáng Honda

Dream, số khung: RNDDCGTND51-201488, số máy: VDGZS150FMG-N-20001488.

Tiếp tục lưu giữ 01 (một) đĩa CD-R ký hiệu NEO ghi nhận hình ảnh LTC thực

hiện hành vi phạm tội.

(Vật chứng được tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số

12 ngày 25/10/2021 giữa Công an Quận 4 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố HCM).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm

2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung

năm 2021:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm)

ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người

được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ