vanban.org

Bản án 26/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 12/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bế Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bế Văn V 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 16/12/2021. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Bế Văn V phạm tội "Trộm cắp tài sản". - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bế Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNG KHÁNH
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/HS-ST
Ngày 12-4-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Quốc Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phương Văn Tư

2. Bà Nguyễn Thị Minh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Noọng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 20/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2022/HSST-QĐ ngày 21/3/2022; Thông báo mở lại phiên tòa số 16/TB-TA ngày 01/4/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bế Văn V; Giới tính: Nam; Sinh ngày 22/7/1994 tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Không nghề; Con ông Bế Văn T, sinh năm 1971, nghề nghiệp: cán bộ, con bà Nông Thị L, sinh năm 1972, nghề nghiệp: trồng trọt; đều trú tại Xóm V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Anh, chị, em ruột: Bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Không có; Con: Không có;

Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án. Ngày 10/9/2018, bị Tòa án nhân dân huyện H, Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về Tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 24/HSST. Ngày 14/03/2019, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 03/HSST. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án là 12 tháng tù;

Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng từ ngày 16/12/2021. (Có mặt).

- Bị hại: Hoàng Minh V, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Nông Văn M, sinh năm 1986; Nơi cư trú: xóm N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt).

2. Bế Văn D, sinh năm 1998; Nơi cư trú: xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 03/11/2021, Bế Văn V đang đợi khách để chạy xe ôm trước cổng Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn chi nhánh T, huyện T, Cao Bằng thì gặp Nông Văn M, sinh năm 1986, trú tại xóm N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. M nói với V “Ở dưới kia có sắt đấy, em tìm rồi rủ thêm một người nữa đi lấy sắt đi”, V trả lời “ừ, để em xem tìm người rồi đi xuống sau”. Nghe vậy, M đi bộ xuống ruộng phía sau khu nhà dân thuộc Tổ dân phố 2, thị trấn T đến một chuồng trâu bỏ hoang để sử dụng ma túy và đợi V tìm người để cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khoảng 15 phút sau cuộc nói chuyện với M, V gặp Bế Văn D, sinh năm 1998, trú tại xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. V hỏi D “Nãy anh M rủ đi lấy sắt đấy, em đi không?”, D nói “Ừ, đi”. Sau đó, V để xe mô tô ở quán nước trước cổng Ngân hàng rồi cùng D đi bộ đến nhà ông Hoàng Minh V, thuộc Tổ dân phố 2, thị trấn T. Khi đến nhà ông Hoàng Minh V, V và D thấy M đang đứng ở dưới vườn cạnh nhà, hai người cùng nhảy xuống vườn. Tại đây, M mở bạt che tấm sắt ra, ba người khiêng tấm sắt đến chỗ chuồng trâu bỏ hoang (nơi Mậu sử dụng ma túy trước đó) giấu. V, M và D bàn bạc, thống nhất đợi trời tối, ít người qua lại sẽ mang tấm sắt đi bán. Sau khi bàn bạc xong, V và M đi bộ ra hướng bờ sông, còn D đi bộ ra phía đường lớn thì bị lực lượng Công an cùng người dân phát hiện, đưa cả người và vật chứng đến trụ sở Công an để làm việc. M và V thấy vậy đã bỏ chạy khỏi hiện trường. Ngày 04/11/2021, Công an thị trấn T triệu tập Bế Văn V và Nông Văn M đến làm việc. Quá trình làm việc, V, M và D đều khai nhận là những người nghiện ma túy, không có tiền nên rủ nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma túy về sử dụng.

Ngày 22/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành cân vật chứng vụ án. Kết quả, tấm kim loại có khối lượng 75,6kg (bảy năm phẩy sáu ki lô gam).

Cùng ngày 22/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh ra văn bản Yêu cầu định giá tài sản. Tại Kết luận định giá tài sản số 56 ngày 29/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trùng Khánh kết luận: Giá trị của 75,6kg kim loại, thời điểm định giá 03/11/2021 là 604.000₫ (Sáu trăm linh bốn nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh đã trả lại tài sản là 01 tấm kim loại cho chủ sở hữu là Hoàng Minh V.

Cáo trạng số 26/CT - VKSTK ngày 25 tháng 02 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo Bế Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa: Bị cáo xác nhận Cáo trạng phản ánh đúng diễn biến hành vi phạm tội của mình. Do không có tiền mua ma túy sử dụng nên đã có hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng truy tố, nay mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã nhận được lại tài sản với cơ quan điều tra và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Bế Văn V, tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản. Xử phạt bị cáo Bế Văn V từ 12 đến 18; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không đặt xem xét; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, về thời gian, địa điểm mất tài sản, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 03/11/2021, Bế Văn V đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) tấm kim loại có khối lượng 75,6 kg (bảy năm phẩy sáu ki lô gam), có giá trị 604.000đ (Sáu trăm linh bốn nghìn đồng) của ông Hoàng Minh V, trú tại Tổ dân phố 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng để đem đi bán mua ma túy về sử dụng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có ý thức che giấu, lén lút, lợi dụng lúc vắng người để trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội ở địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý. Mặc dù giá trị tài sản chiếm đoạt là 604.000đ (Sáu trăm linh bốn nghìn đồng) nhưng do bị cáo đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích: Ngày 10/9/2018, bị Tòa án nhân dân huyện H, Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về Tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 24/HSST. Ngày 14/03/2019, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 03/HSST. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án là 12 tháng tù. Do đó, hành vi của bị cáo đã có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã truy tố và đề nghị mức án đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo có 2 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới. Nhưng tình tiết tái phạm đã được áp dụng là tình tiết định tội đối với bị cáo. Vì vậy, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi của mình, nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người sử dụng ma túy là chất Nhà nước ta cấm lưu hành dưới mọi hình thức, mục đích trộm cắp cũng để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Bị cáo đã từng bị kết án 02 lần về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân. Điều này thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và để phòng ngừa chung.

. Về vật chứng: Tài sản do bị cáo trộm cắp, qua điều tra xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.

. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, sau này nếu các bên có yêu cầu sẽ khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

. Về án phí: Bị cáo là người bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng để đảm bảo việc thi hành án. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trong vụ án này ngoài bị cáo ra còn có các đối tượng là Bế Văn D và Nông Văn M cùng thực hiện hành vi trộm cắp với bị cáo. Nhưng qua điều tra cho thấy:

Đối với Bế Văn D: Qua điều tra xác định, ngày 08/9/2021, Bế Văn D cùng một đối tượng khác thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Do đó, toàn bộ tài liệu liên quan đến Bế Văn D đã được chuyển sang vụ án Bế Văn D để giải quyết là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với Nông Văn M là người cùng Bế Văn V thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do tài sản có giá trị dưới 2.000.000đ (hai triệu đồng), Nông Văn M chưa có tiền án, tiền sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với M là đúng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bế Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bế Văn V 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 16/12/2021.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Bế Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ