- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sẻ V Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Sẻ V Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HS-ST Ngày 10 tháng 01 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Trung Tá
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Minh; Ông Lò Văn Chiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2021/TLST-HS, ngày 29 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Sẻ V Đ, sinh năm 19xx, tại huyện A, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản A, xã B, huyện C, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Giáy; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Sẻ V P, sinh năm 19xx, con bà Vàng T Đ, sinh năm 19xx; vợ: Lò T M, sinh năm 19xx; bị cáo có 01 con, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Tại Bản án số: 02/2017/HSST, ngày 18/10/2017, của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, bị cáo bị xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phong Thổ từ ngày 06/9/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 10 phút, ngày 06/9/2021, tại bản A, xã B, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã B phát hiện, bắt quả tang Sẻ V Đ đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói chất bột màu trắng, được gói ngoài bằng mảnh ni lon màu hồng; 01 xi lanh bằng nhựa đã qua sử dụng. Sẻ V Đ khai nhận số chất bột màu trắng đó là Heroine do Đương cất giấu để sử dụng cho bản thân.
Quá trình điều tra, Sẻ V Đ khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 06/9/2021, Đ được anh Vàng V V, cư trú cùng bản với Đ nhờ Đ đi thu hoạch lúa giúp. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Đ được anh V đưa cho 01 gói Heroine vì Đ đã đi gặt lúa giúp anh V, là gói Heroine mà Đ giao nộp cho tổ công tác.
Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định, xác định được số chất bột màu trắng thu giữ của Sẻ V Đ là ma túy, loại Heroine, có khối lượng: 0,17 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 89/CT-VKS, ngày 29 tháng 11 năm 2021, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Sẻ V Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng. Bị cáo không có tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sẻ V Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sẻ V Đ từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 xi lanh đã qua sử dụng; 01 mảnh nilon màu hồng và các vỏ niêm phong cũ. Đối với toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội mà bị cáo S V Đ đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định:
Khoảng 17 giờ 10 phút, ngày 06/9/2021, tại … bị cáo Sẻ V Đ có hành vi cầm ở tay trái 01 gói Heroine có khối lượng 0,17 gam thì bị bắt quả tang. Mục đích là để sử dụng dần cho bản thân.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Đ khai số Heroine bị thu giữ là bị cáo được Vàng V V cho sau khi bị cáo đi gặt lúa giúp nhà V. Tuy nhiên, Vàng V V không thừa nhận đã đưa Heroine cho Đ. Ngoài lời khai của Đ, không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ cơ sở để điều tra, xử lý đối với V.
Xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật có phần còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân, năm 2017, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh cho bản thân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại. Vật chứng còn lại của vụ án gồm 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng; 01 mảnh nilon màu hồng và các vỏ niêm phong cũ là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
Tuyên bố:
1. Bị cáo Sẻ V Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Sẻ V Đ 20 (hai mươi) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2021.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng của vụ án còn lại gồm: 01 chiếc xilanh; 01 mảnh nilon màu hồng và các phong bì niêm phong cũ.
3. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp; - VKSND huyện Phong Thổ; - CA huyện Phong Thổ (CQĐT, THAHS); - CC THADS huyện Phong Thổ; - Bị cáo; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Trung Tá |