vanban.org

Bản án 26/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 17/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 11/01/2022. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/HS-ST
Ngày: 17/02/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Bình

Ông Trần Thanh Truyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2022/TLST- HS ngày 14 tháng 01 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2022/QĐXXST-HS ngày 07/02/2022 đối với bị cáo:

NGUYỄN NGỌC TH, sinh năm: 1997, tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Khu phố 2, phường Bảo An, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1965 và bà Đặng Thị L, sinh năm: 1967.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TP. Phan Rang – Tháp Chàm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

Bị hại: Ông Phan Văn H, sinh năm: 1958. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: Khu phố 2, phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Người làm chứng:

- Anh Trương Minh T, sinh năm: 1994. (Vắng mặt)

- Anh Nguyễn Anh Q, sinh năm: 1972. (Vắng mặt)

Cùng trú tại: Khu phố 4, phường Bảo An, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Anh Nguyễn Anh Ph, sinh năm: 1980. (Vắng mặt)

Trú tại: Khu phố 2, phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ, ngày 16/5/2019, Nguyễn Ngọc Th, nhờ Trương Minh T chở đến nhà ông Phan Văn H để đòi nợ số tiền 10.000.000 đồng mà ông H vay trước đó. Đến nơi, Th đi vào một mình, T đứng ở ngoài đợi, Th vào nhà, yêu cầu ông H phải trả số tiền trên nhưng ông H nói rằng mình đang bị bệnh, chưa có tiền trả bây giờ, hẹn lại sau này trả. Th bực tức nên gọi điện thoại cho Nguyễn Anh Q, đến để đòi nợ (vì ông H cũng nợ Q 3.000.000 đồng). Khi nghe Th gọi điện nói là đang ở nhà ông H để đòi nợ (số tiền ông Huệ mượn của Th cũng là tiền của Q), Q ra lấy xe mô tô để đi đến nhà ông H thì Nguyễn Anh Ph (là cháu của Q), hỏi chú đi đâu vậy? Q trả lời là đi qua nhà ông H để lấy tiền, Ph nói cho con đi với, rồi lên xe mô tô để Q chở đến nhà ông H. Tại đây, Th, Ph và Q lớn tiếng yêu cầu ông H phải trả tiền, ông H cũng nói là chưa có tiền trả, xin khất nợ và lấy điện thoại di động hiệu SAMSUNG J7 màu xanh đen, ra tìm số, để gọi Công an đến can thiệp. Thấy vậy, Ph giật lấy điện thoại của ông H đang cầm trên tay, dùng tay phải đánh vào mặt ông H một cái, rồi đưa điện thoại cho Th cầm. Q bảo với Ph và Th lấy điện thoại của ông H, mang lên công an để ông H trả nợ cho mình, ông H đi theo nhóm của Q để xin lại điện thoại thì bị Ph đánh tiếp 02 cái vào vùng mặt, rồi cả nhóm đi ra khỏi nhà ông H. Ông H lấy xe của mình đi ra khỏi nhà và nói với nhóm Q: “Tụi mày lấy điện thoại của tao, tao đi báo Công an”, ông H đi trước, nhóm Q cũng lên xe đi về, trên đường đi, Q nhận được điện thoại của Th nói là ông H đang ở Công an phường Bảo An nên Q chở Ph đến Công an phường Bảo An, Th cũng vừa đến nơi. Tại đây Ph và ông H xảy ra tranh cãi nên Q và Th đưa Ph về. Khi đến chợ Tháp Chàm, Th đưa điện thoại của ông H cho Q, thì Q nói “Mày cất giữ đi, mai tính tiếp” rồi cả nhóm về nhà ngủ. Đến khoảng 09 giờ 50 phút, ngày 17 tháng 5 năm 2019, khi được cơ quan Công an triệu tập, Q bảo Th mang điện thoại của ông H để lên cơ quan Công an giao nộp.

Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Công an phường Đô Vinh ghi nhận không phát hiện dấu vết tổn thương trên cơ thể của ông H.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 61/KLTS ngày 25/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP Phan Rang- Tháp Chàm kết luận 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG J7 màu xanh đen, vào ngày 16/5/2019 có giá trị là 3.100.000 đồng.

Cáo trạng số 61/CT- VKSPRTC ngày 28 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố các bị cáo Nguyễn Anh Ph, Nguyễn Anh Q, Nguyễn Ngọc Th về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 1 Điều 170; điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Th từ 06 đến 09 tháng tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo không tham gia tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Do có mâu thuẫn trong việc vay mượn tiền, nên khoảng 23 giờ, ngày 16/5/2019, tại nhà ông Phan Văn H ở khu phố 2, phường Đô Vinh, TP Phan Rang-Tháp Chàm, Nguyễn Anh Ph, Nguyễn Anh Q và Nguyễn Ngọc Th, đã cùng nhau thực hiện hành vi cưỡng đoạt của ông H 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG J7 màu xanh đen, có giá trị 3.100.000 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Anh Ph đã bị Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xét xử tại bản án số 60/2020/HS-ST ngày 10/7/2020 và Nguyễn Anh Q đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử tại bản án số 54/2020/HS-PT ngày 25/9/2020.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Tuy nhiên, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ông ngoại của bị cáo là người có công với cách mạng đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG J7, màu xanh đen cho ông Phan Văn H là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm về xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên hội đồng xét xử xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 170; điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 11/01/2022.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Ngọc Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; vắng mặt bị hại, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ