- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Điền E và Đào Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HS-ST Ngày: 31/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pho.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Thu Hằng.
2. Bà Nguyễn Thị Bích Hằng.
Thư ký phiên tòa: Ông Hứa Quốc Cường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thành – Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2022/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên Nguyễn Điền E – sinh năm 1988; nơi sinh: Huyện A – tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: Ấp Ngã Bát, xã Tây Yên A, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Thành và bà Nguyễn Thị Nhan; anh chị E ruột: 06 người, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1990; vợ: Phạm Thị Bích Chị, sinh năm 1995; con 02 người: lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; tiền sự: Không; có 01 tiền án đã được xóa án tích, cụ thể: Ngày 22/7/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ ngày 18/01/2022 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt).
2/ Họ và tên Đào Thanh S – sinh năm 1988; nơi sinh: Huyện A – tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: Ấp Rẫy Mới, xã Tây Yên A, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Liêm Sỉ và bà Võ Thị Thu; anh chị E ruột: 05 người, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1993; vợ: Trần Thị Út, sinh năm 1976; tiền sự: Không; có 01 tiền án đã được xóa án tích, cụ thể: Ngày 26/9/2006, bị Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 05 năm tù. Bị cáo bị tạm giữ ngày 18/01/2022 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt).
- Người bị hại:
1/ Y– sinh năm 1973 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 07, ấp Hòn Trẹm, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
2/ Danh C – sinh năm 1976 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 03, ấp Hòn Trẹm, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
3/ Nguyễn Văn M – sinh năm 1967 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 03, ấp Hòn Trẹm, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
4/ Bùi Văn C – sinh năm 1977 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 04, ấp Hòn Trẹm, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
5/ Lê Thị T– sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 05, ấp Mương Kinh, xã S Bình, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 17/01/2022, Nguyễn Điền E rủ Đào Thanh S điều khiển vỏ máy Composite của E đi từ huyện A đến vùng biển huyện K để tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, E và S đến khu vực ấp Hòn Trẹm, xã B, huyện K thì phát hiện nhiều ghe biển đang neo đậu gần nhau nhưng không có người trông giữ nên đã cùng nhau trộm cắp tài sản trên ghe. E và S đến đột nhập vào ghe của anh Nguyễn Văn M lấy trộm 01 bình ắc quy Đồng Nai N100 (12V-100Ah), 01 bình ắc quy Enimac N100 (12V-100Ah), 01 máy định vị nhãn hiệu FURUNO GPS NAVIGATOR, số seri 3425-2221 màu xám, và 01 can dầu DO (dầu diesel) 30 lít đE xuống vỏ máy cất giấu. Sau đó tiếp tục đột nhập vào ghe của anh Bùi Văn C dùng kìm cộng lực (đã chuẩn bị trước) cắt ổ khóa lấy trộm 01 bình ắc quy Đồng Nai N150 (12V-150Ah), 01 bình ắc quy GS N150 (12V-140Ah) và 01 can dầu DO (dầu diesel) 30 lít đE xuống vỏ cất giấu. E và S đến ghe của anh Danh C tiếp tục lấy trộm 01 máy định vị nhãn hiệu SAMYUNG N430, màu đen không rõ số seri và 02 can dầu DO (dầu diesel) mỗi can 30 lít tiếp tục đE xuống vỏ cất giấu, sau khi trộm tài sản của anh Danh C xong E và S đến ghe của anh Ylấy trộm 01 máy phát điện (Dinamo) màu xám xanh, không rõ nhãn hiệu, 01 can nhớt CALTEX Delo Gold ULTRA SEA 15W-40, loại can 05 lít, màu xanh và 02 can dầu DO (dầu diesel) mỗi can 30 lít tiếp tục đE xuống vỏ cất giấu và điều khiển về hướng vùng biển huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 18/01/2022, E và S đến vùng biển thuộc ấp Hòn Quéo, xã Thổ S, huyện H, tỉnh Kiên Giang phát hiện lú dây đánh bắt thủy sản của chị Lê Thị Tđang đặt dưới biển nên đã lấy trộm 34 (ba mươi bốn) cái lú để lên vỏ, sau đó điều khiển vào bờ thuộc ấp Hòn Quéo, xã Thổ S, huyện H neo đậu để ngủ, chờ trời sáng điều khiển vỏ chở tài sản trộm cắp được về huyện A, tỉnh Kiên Giang để tiêu thụ, khi đang ngủ thì bị Phòng Cảnh sát giao thông đường thủy Công an tỉnh Kiên Giang tuần tra phát hiện.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
1/ 01 (một) chiếc vỏ lãi Composite, nhãn hiệu Vạn Trường, màu trắng xanh, chiều dài 8,6m đã qua sử dụng.
2/ 01 (một) máy động cơ NISSAN DIESEL CYQD32T, số máy 213057T402, dùng để chạy vỏ lãi, đã qua sử dụng.
3/ 01 (một) bình ắc quy GS N100 (12V-100Ah), được gắn trong vỏ lãi dùng để khởi động máy động cơ, đã qua sử dụng.
4/ 01 (một) bình ắc quy Đồng Nai N150 (12V-150Ah), đã qua sử dụng.
5/ 01 (một) bình ắc quy GS N150 (12V-140Ah), đã qua sử dụng.
6/ 01 (một) bình ắc quy Đồng Nai N100 (12V-100Ah), đã qua sử dụng.
7/ 01 (một) bình ắc quy Enimac N100 (12V-100Ah), đã qua sử dụng.
8/ 01 (một) máy phát điện (Dinamo), màu xám xanh, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.
9/ 01 (một) máy định vị nhãn hiệu FURUNO GPS NAVIGATOR, số seri 3425-2221, màu xám, đã qua sử dung.
10/ 01 (một) máy định vị nhãn hiệu SAMYUNG N430, không rõ số seri, màu đen, đã qua sử dung.
11/ 06 (sáu) can dầu DO (dầu Diesel), mỗi can 30 lít, tổng cộng 180 lít, chưa qua sử dụng.
12/ 01 (một) can nhớt CALTEX Delo Gold ULTRA SEA 15W-40, loại can 05 lít, màu xanh, còn nguyên vẹn, chưa qua sử dụng.
13/ 01 (một) cây kìm cộng lực màu xanh, tay cầm màu đen, đã qua sử dụng.
14/ 34 (ba mươi bốn) cái lú dây dùng để đánh bắt thủy hải sản, màu xanh đã qua sử dụng.
* Theo Bản kết luận định giá số 02/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận:
- 01 (một) bình ắc quy Đồng Nai N150 (12V-150Ah), đã qua sử dụng có giá trị 3.000.000 đồng.
- 01 (một) bình ắc quy GS N150 (12V-140Ah), đã qua sử dụng có giá trị 2.780.000 đồng.
- 01 (một) bình ắc quy Đồng Nai N100 (12V-100Ah), đã qua sử dụng có giá trị 2.010.000 đồng.
- 01 (một) bình ắc quy Enimac N100 (12V-100Ah), đã qua sử dụng có giá trị 1.950.000 đồng.
- 01 (một) máy phát điện (Dinamo), màu xám xanh, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng có giá trị 1.500.000 đồng.
- 01 (một) máy định vị nhãn hiệu FURUNO GPS NAVIGATOR, số seri 3425-2221 màu xám, đã qua sử dung có giá trị 2.000.000 đồng.
- 01 (một) máy định vị nhãn hiệu SAMYUNG N430, không rõ số seri, màu đen, đã qua sử dung có giá trị 2.500.000 đồng.
- 06 (sáu) can dầu DO (dầu Diesel), mỗi can 30 lít, tổng cộng 180 lít, chưa qua sử dụng có giá trị 3.346.200 đồng.
- 01 (một) can nhớt CALTEX Delo Gold ULTRA SEA 15W-40, loại can 05 lít, màu xanh, còn nguyên vẹn, chưa qua sử dụng có giá trị 400.000 đồng.
* Theo Bản kết luận định giá số 10/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 34 (ba mươi bốn) cái lú bát quái 12 cửa ngục loại lưới cước, 29 vành; kích thước vành 30cm x 40cm có giá trị 5.580.000 đồng.
* Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 25.066.200 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSKL ngày 16/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Nguyễn Điền E và Đào Thanh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo E, S phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo E, S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phân tích tính chất và mức độ của hành vi mà bị cáo gây ra; căn cứ vào tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Điền E và Đào Thanh S phạm tội trộm cắp tài sản.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Điền E, xử phạt bị cáo E từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Đào Thanh S, xử phạt bị cáo S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện K xác định tất cả tài sản của những người bị hại thu giữ được không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên đã trao trả cho chủ sở hữu nên đề nghị ghi nhận.
Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các tài sản của bị cáo Nguyễn Điền E dùng vào việc phạm tội bao gồm:
- 01 (một) chiếc vỏ Composite, nhãn hiệu Vạn Trường, màu trắng xanh, chiều dài 8,6m đã qua sử dụng.
- 01 (một) máy động cơ NISSAN DIESEL CYQD32T, số máy 213057T402, dùng để chạy vỏ lãi, đã qua sử dụng.
- 01 (một) bình ắc quy GS N100 (12V-100Ah), được gắn trong vỏ lãi dùng để khởi động máy động cơ, đã qua sử dụng.
- 01 (một) cây kìm cộng lực màu xanh, tay cầm màu đen, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không xE xét.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và lời khai tại phiên tòa là phù hợp với vật chứng của vụ án, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:
Vào đêm ngày 17/01/2022 đến rạng sáng ngày 18/01/2022, Nguyễn Điền E và Đào Thanh S cùng nhau điều khiển vỏ máy Composite của E đi từ huyện A đến vùng biển huyện K để trộm cắp tài sản. E và S đã trộm cắp tài sản trên ghe biển neo đậu gần nhau tại vùng biển thuộc ấp Hòn Trẹm, xã B, huyện K như sau:
Trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Văn M gồm: 01 bình ắc quy Đồng Nai N100 (12V-100Ah), 01 bình ắc quy Enimac N100 (12V-100Ah), 01 máy định vị nhãn hiệu FURUNO GPS NAVIGATOR, số seri 3425-2221 màu xám, và 01 can dầu DO (dầu diesel) 30 lít.
Trộm cắp tài sản của anh Bùi Văn C gồm: 01 bình ắc quy Đồng Nai N150 (12V-150Ah), 01 bình ắc quy GS N150 (12V-140Ah) và 01 can dầu DO (dầu diesel) 30 lít.
Trộm cắp tài sản của anh Danh C gồm: 01 máy định vị nhãn hiệu SAMYUNG N430, màu đen không rõ số seri và 02 can dầu DO (dầu diesel) mỗi can 30 lít.
Trộm cắp tài sản của anh Ygồm: 01 máy phát điện (Dinamo) màu xám xanh, không rõ nhãn hiệu, 01 can nhớt CALTEX Delo Gold ULTRA SEA 15W-40, loại can 05 lít, màu xanh và 02 can dầu DO (dầu diesel) mỗi can 30 lít.
Ngoài ra E và S còn trộm cắp tài sản của chị Lê Thị T34 (ba mươi bốn) cái lú dây dùng để đánh bắt thủy hải sản đang đặt tại vùng biển thuộc ấp Hòn Quéo, xã Thổ S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận định giá là 25.066.200 đồng.
Như vậy, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị cáo E và S đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố các bị báo về tội trộm cắp tài sản là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, các bị cáo nhận thức được quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mà bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm nhưng với bản chất lười lao động muốn có tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân các bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo các bị cáo biết tôn trọng pháp luật, thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Điền E và Đào Thanh S có nhân thân xấu, từng có tiền án nhưng đã được xóa án tích. Các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận và tỏ ra biết ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình, giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về vật chứng: Ghi nhận việc cơ quan Công an đã trao trả tất cả các tài sản cho người bị hại.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội của các bị cáo bao gồm: 01 (một) chiếc vỏ Composite, nhãn hiệu Vạn Trường, màu trắng xanh, chiều dài 8,6m đã qua sử dụng; 01 (một) máy động cơ NISSAN DIESEL CYQD32T, số máy 213057T402, dùng để chạy vỏ lãi, đã qua sử dụng; 01 (một) bình ắc quy GS N100 (12V-100Ah), được gắn trong vỏ lãi dùng để khởi động máy động cơ, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kìm cộng lực màu xanh, tay cầm màu đen, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều đã nhận lại tài sản bị mất, không có yêu cầu gì thêm nên không xE xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Điền E và Đào Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Điền E 02 (hai) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/01/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Thanh S 02 (hai) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/01/2022.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện K trao trả cho các chủ sở hữu là phù hợp nên ghi nhận.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc vỏ lãi, chất liệu bằng composite, nhãn hiệu Vạn Trường, màu trắng xanh, chiều dài 8,6m đã qua sử dụng; 01 máy động cơ NISSAN DIESEL CYQD32T, số máy 213057T402, dùng để chạy vỏ lãi, đã qua sử dụng; 01 bình ắc quy GS N100 (12V-100Ah), được gắn trong chiếc vỏ lãi, dùng để khởi động máy động cơ, đã qua sử dụng; 01 cây kìm cộng lực màu xanh, tay cầm màu đen, đã qua sử dụng. Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/5/2022.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xE xét.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc E và S, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự là 200.000 đồng.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại vắng mặt có quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - Những người TGTT; - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Pho |