- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh P phạm tội “Cướp giật tài sản”; xử phạt bị cáo Trần Thanh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02-01-2022.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HS-ST Ngày: 24-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Tấn Tiên;
2. Bà Bùi Thị Hải Đường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ba Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Thanh P, sinh năm: 1999, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh P1 và bà Phan Thị Lệ H; có vợ là Võ Bé T (chưa đăng ký kết hôn) và 01 người con; tiền án: Bản án số 41/2020/HSST ngày 24-6-2020 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Thanh P 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 20-4-2021; tiền sự: Ngày 24-8-2018 Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định số 77 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 15-7-2019; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02-01-2022 cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Chị Trần Thị Kim A, sinh năm: 1997, địa chỉ cư trú: Ấp T, Ấp TB, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 01-01-2022, bị cáo Trần Thanh P điều khiển xe mô tô biển số 70E1-401.45 lưu thông từ hướng xã C về hướng xã K, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Khi bị cáo điều khiển xe mô tô đi ngang qua ngã 3 Láng thuộc ấp KH, xã K, Huyện D thì nhìn thấy chị Nguyễn Thị Kim A đang dừng xe mô tô bên trong lề đường và trên tay đang cầm điện thoại Iphone 7plus để nói chuyện. Vì vậy, bị cáo Pnảy sinh ý định cướp giật điện thoại của chị A đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lúc này, bị cáo Pliền điều khiển xe mô tô quay lại, chạy sát vào xe chị A và dùng tay phải giật lấy điện thoại đưa sang tay trái rồi tẩu thoát. Sau khi sự việc xảy ra, Công an xã Cầu Khởi, Huyện D, tỉnh Tây Ninh tiến hành xác minh, truy tìm đối tượng và bắt được bị cáo Pcùng vật chứng có liên quan.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, bị cáo Trần Thanh P đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Kết luận định giá tài sản số: 01 ngày 05 tháng 01 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự Huyện D kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus, màu hồng, mua tháng 9/2021, đã qua sử dụng có giá trị 4.270.000 đồng.
Vật chứng thu giữ trong vụ án: Không có.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường.
Về kê biên tài sản: Bị cáo P không có tài sản riêng nên không tiến hành kê biên.
Cáo trạng số: 15/CT-VKS- DMC ngày 14-4-2022 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Trần Thanh P về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thanh P với mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu bồi thường gì thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của các bị cáo thể hiện:
Vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 01-01-2022, tại khu vực ấp KH, xã K, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Trần Thanh P đã thực hiện hành vi cướp giật của chị Nguyễn Thị Kim A 01 điện thoại hiệu Iphone 7Plus trị giá 4.270.000 đồng, sau đó bị phát hiện bắt giữ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Bản cáo trạng truy tố bị cáo Trần Thanh P phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an ở địa phương nên cần có hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện và phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Thanh P có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên cần ghi nhận.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Pkhông có tài sản, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh P phạm tội “Cướp giật tài sản”; xử phạt bị cáo Trần Thanh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02-01-2022.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị hại đã nhận lại 01 (một) điện thoại di động Iphone, loại 7 plus, màu hồng, đã qua sử dụng, không có bất cứ yêu cầu gì thêm.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thanh P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND Huyện D; - Công an Huyện D; - Chi cục THADS H.Dương Minh Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Huỳnh Châu |