- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYEN THI NGOC M- VO PHUONG T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 26/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26-4-2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Minh Trí.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
2. Ông Đặng Minh Lý
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Bƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lƣu Kim Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án thụ lý số: 343/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022, giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1990; thƣờng trú tại: Số nhà 21/53, tổ 53, ấp 3, phƣờng H, thành phố M, tỉnh D; địa chỉ liên hệ: Số nhà 193/2, khu phố 1B, phƣờng P, thành phố M, tỉnh D, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Võ Phƣơng T, sinh năm 1980; thƣờng trú tại: 21/53, tổ 53, ấp 3, phƣờng H, thành phố M, tỉnh D, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 12 năm 2021, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc M trình bày:
Bà M và ông Võ Phƣơng T chung sống vợ chồng với nhau từ tháng 4/2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 44, ngày 26/4/2010.
Quá trình chung sống có 03 con chung
1/ Võ Ngọc Thanh T, sinh ngày 27/3/2007
2/ Võ Ngọc Lan A, sinh ngày 26/6/2009
3/ Võ Phúc K, sinh ngày 21/02/2017
Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Tuy nhiên đƣợc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Ông T sau khi chấp hành án tù trở về thì tính tình nóng nảy, hay ghen tuông vô cớ, đôi khi có hành vi bạo lực. Ông T nhiều lần dọa giết bà M. Ông T không đi làm để phụ giúp gia đình, vợ con mà mọi thứ một mình bà M phải gánh vác. Bà M về nhà mẹ ruột sống mấy tháng nay, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Bà M làm nghề buôn bán mỗi tháng thu nhập khoảng 15.000.000 đồng
Hiện nay các con chung đang sống cùng ông T. Nguyện vọng của cháu L và T là sống cùng với cha, mẹ nếu cha mẹ ly hôn
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu đƣợc ly hôn với ông T
Về con chung: Yêu cầu đƣợc nuôi 03 con chung, yêu cầu ông T cấp dƣỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình tố tụng ông T đều vắng mặt
Tại phiên Tòa: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai đối với việc xét xử.
Vị đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thƣ ký Tòa án: Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, các đƣơng sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử nhƣ sau: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn.
Về con chung: Giao con chung tên Võ Phúc K cho bà M nuôi dƣỡng. Ông T nuôi dƣỡng 02 con chung tên Võ Ngọc Thanh T và Võ Ngọc Lan A. Không ai cấp dƣỡng nuôi con cho ai.
Về tài sản chung, nợ chung: Đƣơng sự không yêu cầu nên không giải quyết
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị Ngọc M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Võ Phƣơng T và yêu cầu đƣợc nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn – ông Võ Phƣơng T có nơi cƣ trú tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng vì vậy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng là Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Về việc xét xử vắng mặt: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia phiên tòa nhƣng vẫn vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Ngọc M và ông Võ Phƣơng T chung sống với nhau từ năm 2010, trên cơ sở có tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng H và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 44, ngày 26/4/2010. Do đó, theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông T là hôn nhân hợp pháp.
Bà M khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn với ông T với lý do: Ông T sau khi chấp hành án tù trở về thì tính tình nóng nảy, hay ghen tuông vô cớ, đôi khi có hành vi bạo lực. Ông T nhiều lần dọa giết bà M. Ông T không đi làm để phụ giúp gia đình, vợ con mà mọi thứ một mình bà T phải gánh vác. Vợ chồng đã sống riêng nhau khoảng mấy tháng nay, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai.
Xét thấy: Quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sống có trách nhiệm, thƣơng yêu, chăm sóc, quan tâm lẫn nhau. Vợ chồng bà M và ông T vì không còn tình cảm với nhau nên không ai quan tâm đến ai, mạnh ai nấy sống nên chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà M và ông T không đạt đƣợc các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Ông T không đồng ý ly hôn nhƣng vẫn không có biện pháp gì cải thiện, hàn gắn nên tình trạng hôn nhân của bà M và ông T đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M về việc ly hôn với ông T.
Về con chung: Sau khi ly hôn bà M yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục các con chung tên Võ Ngọc Thanh T, sinh ngày 27/3/2007, Võ Ngọc Lan A, sinh ngày 26/6/2009, Võ Phúc K, sinh ngày 21/02/2017 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, xét thấy: Bà M làm nghề tự do buôn bán thu nhập 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng mỗi tháng. Ông T không đến Tòa trình bày ý kiến nhƣng tại biên bản giao nhận giấy tờ tài liệu ngày 08/3/2022 (bl33) ông T có viết nội dung “tôi không đi đƣợc, vợ tôi theo trai, bỏ lại cho tôi 03 đứa con, tôi đi làm không có thời gian, tôi nghỉ họ đuổi việc 03 đứa con tôi đói, cảm ơn” và tại biên bản lấy lời khai cháu T và cháu Lan A đều xác định hiện các con chung đều sống cùng ông T nên có cơ sở xác định ông T có đi làm và có thu nhập nên nuôi các con tốt thể hiện bằng việc các con đều khỏe mạnh và học hành đầy đủ. Nhƣ vậy việc bà M trình bày ông T không chịu đi làm để lo cho gia đình là không có cơ sở. Hiện nay một mình ông T nuôi 03 con chung là một gánh nặng lớn đối với ông T. Do vậy, cần giao con chung tên Võ Phúc K, sinh ngày 21/02/2017 cho bà M nuôi dƣỡng là đảm bảo sự công bằng việc thể hiện trách nhiệm làm cha, làm mẹ đối với các con.
Về cấp dƣỡng: Không ai phải cấp dƣỡng nuôi con cho ai.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5[ Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
- Khoản 1 Điều 14; các Điều 15, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc M đối với bị đơn – Võ Phƣơng T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc M đƣợc ly hôn với ông Võ Phƣơng T
- Về con chung: Giao con chung tên Võ Ngọc Thanh T, sinh ngày 27/3/2007 và Võ Ngọc Lan A, sinh ngày 26/6/2009 cho ông Võ Phƣơng T trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi
Giao con chung tên Võ Phúc K, sinh ngày 21/02/2017 cho bà Nguyễn Thị Ngọc M trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về cấp dƣỡng: Không ai phải cấp dƣỡng cho ai.
2. Không chấp nhận yêu cầu của bà M về việc yêu cầu đƣợc nuôi con chung tên Võ Ngọc Thanh T, sinh ngày 27/3/2007 và Võ Ngọc Lan A, sinh ngày 26/6/2009 và buộc ông T cấp dƣỡng 2.000.000 đồng/tháng/con.
Sau khi ly hôn, ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở. Ngƣời không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con thì ngƣời trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ngƣời đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dƣỡng nuôi con.
3. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0000736 ngày 16/12/2021 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng. Bà M còn phải nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
5. Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố M; - Chi cục THADS thành phố M; - UBND phƣờng H, TP M, tỉnh Bình Dƣơng; - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Huỳnh Minh Trí |