vanban.org

Bản án 26/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về viê ̣c xin ly hôn ông Vũ Duy L. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Vũ Duy L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị L yêu cầu ly hôn với ông Vũ Duy L"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 12/7/2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ-RỊA VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Nam

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Quỳnh Nga

2. Ông Đặng Văn Đê

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo L Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1986 (vắng mặt –có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 3, khu phố H, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Vũ Duy L, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 3, khu phố H, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà L và ông L tìm hiểu nhau được gần 6 năm thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 25/02/2009 tại UBND xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình theo giấy chứng nhận kết hôn số 14. Sau khi kết hôn vợ chồng sống riêng tại phường K, thành phố B từ đó cho đến nay.Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, bà L đã nộp đơn ra Tòa án yêu cầu giải quyết ly hôn nhưng đã rút đơn để vợ chồng có cơ hội hàn gắn tình cảm nuôi dạy con chung. Quá trình về sống chung lại vợ chồng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn, nguyên nhân L vợ chồng không hợp nhau thường xuyên cãi nhau, ông L đánh đập bà L và con, không có sự quan tâm lo lắng chăm sóc cho vợ con. Từ tháng 3/2022 vợ chồng đã ly thân, bà L về nhà ba mẹ đẻ sinh sống. Thời gian vợ chồng ly thân cũng không tìm cách hàn gắn tình cảm. Nay, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Duy L.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là Vũ Duy Đắc H, sinh ngày 26/01/2012 và Vũ Ngọc A, sinh ngày 23/6/2015. Bà L yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về ý kiến của bị đơn ông Vũ Duy L: Quá trình tố tụng, tòa án đã nhiều lần triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì.

Theo kết quả xác minh , ông Vũ Duy L có hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Tổ 3, khu phố H, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu. Tòa án cũng đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng bà L và ông L, kết quả được chính quyền địa phương cho biết như sau “.. bà L và ông L là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 2008, mâu thuẫn cụ thể giữa hai vợ chồng thì địa phương không rõ nhưng bà L và ông L hiện nay đã ly thân, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau…”.

Tại phiên tòa hôm nay, bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến đã trình bày, ông L vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng; Bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L. Về con chung giao 02 con chung cho bà L nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà L phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị L có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông Vũ Duy L, hiện nay ông L đang cư trú tại phường K, thành phố B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà L yêu cầu ly hôn nên đây L vụ án hôn nhân và gia đình, quan hệ tranh chấp “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Vũ Duy L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà L và ông L.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà L:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của bà L, giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã D cấp, có đủ cơ sở khẳng định bà L và ông L tự nguyện sống chung với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 25/02/2009 tại UBND xã D, huyện H, tỉnh T đây L hôn nhân hợp pháp và được công nhận L vợ chồng. Quá trình sống chung bà L cho rằng vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do ông L không quan tâm gì đến gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm nên dẫn đến cãi nhau, bà L và ông L đã ly thân từ tháng 03/2022. Quá trình giải quyết vụ án, đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông Vũ Duy L vẫn vắng mặt không đến Tòa án để hòa giải, kết hợp với nội dung biên bản xác minh của Tòa án. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông L L có thật và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà L về việc ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà L và ông L có 02 con chung tên là Vũ Duy Đắc H, sinh ngày 26/01/2012 và Vũ Ngọc A, sinh ngày 23/6/2015. Xét thấy con chung có nguyện vọng được ở với bà L, bà L có công việc ổn định, có thu nhập. Do đó, Tòa án giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi L có cơ sở. Về cấp dưỡng nuôi con bà L không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con L tự nguyện nên cần ghi nhận.

Về tài sản, nợ chung: Bà L và ông L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân và đình gia sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về viê ̣c xin ly hôn ông Vũ Duy L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Vũ Duy L.

2. Về con chung: Giao con chung L Vũ Duy Đắc H, sinh ngày 26/01/2012 và Vũ Ngọc A, sinh ngày 23/6/2015 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), bà L không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, bà L và ông L đều có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích mọi mặt của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004363 ngày 24/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà L đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ