vanban.org

Bản án 26/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/HNGĐ-ST
Ngày 10-6-2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Vinh

Bà Phạm Thị Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/QĐXX-ST ngày 16 tháng 5 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/QĐST-HNGĐ ngày 02/6/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1986; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 38, N, Tổ dân phố số 5, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số 365 đường V, đường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có yêu cầu xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Đinh Văn D, sinh năm 1986; trú tại: Số nhà 38, N, Tổ dân phố số 5, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 16 tháng 3 năm 2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chi ̣ Nguyễn Thị Kim L trình bày:

Chị và anh Đinh Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng vào ngày 31/12/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, lối sống, cách suy nghĩ cũng như trong sinh hoạt hàng ngày. Mặt khác, trong cuộc sống vợ chồng anh D không chung thủy mà còn có người phụ nữ khác bên ngoài, chị cũng đã khuyên nhủ để anh D thay đổi quay về với vợ con nhưng anh D không nghe. Điều này làm cho cuộc sống vợ chồng ngày càng thêm căng thẳng, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Từ tháng 9/2015 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm trách nhiệm gì đến nhau. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn đoàn tụ được nữa nên chị đề nghị Tòa án sớm giải quyết cho chị được ly hôn với anh D để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị L và anh D có 02 con chung là Đinh Hải A, sinh ngày 23/10/2009 và Đinh Thị Thanh H, sinh ngày 13/01/2012. Ly hôn, chị cầu Tòa án giải quyết giao con chung Đinh Hải A cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; giao con chung Đinh Thị Thanh H cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Vì chị muốn chia sẽ trách nhiệm nuôi con của mỗi bên khi ly hôn và việc này cũng là nguyện vọng của các con khi bố mẹ ly hôn. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản chung: Chị và anh D không có tài sản chung nên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ á n , Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các các văn bản tố tụng khác của Tòa án cho bi ̣ đơn là anh Đinh Vă n D. Nhưng anh D không đến Tò a á n và cũng không gử i cho Tò a á n văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Kim L .

Theo kết quả xác minh tại địa phương nơi chi ̣ L và anh D sinh sống cũng như ý kiến của gia đình: Quá trình chung sống tại địa phương , chị L và anh D có xảy ra nhiều mâu thuẫn . Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do hai bên có sự bất đồng về quan điểm, lối sống sinh hoạt hàng ngày, anh D có người phụ nữ khác làm mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không có hạnh phúc.

Theo ý kiến của cháu Đinh Hải A và Đinh Thị Thanh H (con chung của chị L và anh D: Trường hợp bố mẹ ly, hôn cháu Hải A có nguyện vọng được sống với bố; còn cháu H có nguyện vọng được sống với mẹ đến khi trưởng thành.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Loan về những vấn đề sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với anh Đinh Văn D.

- Về nuôi dưỡng con: Giao con chung là Đinh Hải A, sinh ngày 23/10/2009 cho anh D nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; giao con chung Đinh Thị Thanh H, sinh ngày 13/01/2012 cho chị L nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.

- Về cấp dưỡng nuôi con : Chị L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về chia tài sản: Chị L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết .

- Về án phí: Chị L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Đinh Văn D, sinh năm 1986; trú tại: Số nhà 38, N, Tổ dân phố số 5, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn là anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh D tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Xét mâu thuẫn của vợ chồng chị L và anh D đã trầm trọng và kéo dài. Vợ chồng hiện nay không còn quan tâm trách nhiệm gì đến nhau. Trên thực tế quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh D đã không còn tồn tại, không đạt được mục đích của hôn nhân. Chị L giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh D; đối với anh D, trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh D vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Điều này thể hiện anh D không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân của vợ chồng. Như vậy, việc chị L yêu cầu xin ly hôn với anh D là có căn cứ, đúng thực tế tình trạng mâu thuẫn vợ chồng, nên căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Loan.

Về con chung: Chị L và anh D có hai con chung là Đinh Hải A, sinh ngày 23/10/2009 và Đinh Thị Thanh H, sinh ngày 13/01/2012. Xét hiện nay chị L và anh D đều có điều kiện nuôi con chung như nhau. Mặt khác, con chung Đinh Hải A có nguyện vọng được sống với anh D; con chung Đinh Thị Thanh H có nguyện vọng được sống với chị L khi bố mẹ ly hôn. Hơn nữa, cháu Thanh H là con gái nên rất cần sự quan tâm chỉ bảo của người mẹ về tâm sinh lý phát triển. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, cũng như chia sẽ trách nhiệm nuôi con của mỗi bên khi ly hôn, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị L, giao con chung Đinh Hải A cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; giao con chung Đinh Thị Thanh H cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Anh D không có ý kiến về con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử xét.

Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị L phải chịu áp phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự ; các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn anh Đinh Văn D.

2. Về nuôi con chung:

+ Giao con chung là Đinh Hải A, sinh ngày 23/10/2009 cho anh Đinh Văn D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành

(đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật;

+ Giao con chung là và Đinh Thị Thanh H, sinh ngày 13/01/2012 cho chị Nguyễn Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con : Chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phi : Chị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn ) tiền án phí ly

́ hôn sơ thẩm . Chị L đã nộp đủ số tiền trên tại Chi cu ̣c Thi hành án dân sự quâ ̣n Hải An, thành phố Hải Phòng theo biên lai thu số 0004694, ngày 23 tháng 3 năm 2022.

5. Về quyền kháng cáo : Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án . Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ