vanban.org

Bản án 26/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho anh Lê Văn T được ly hôn với chị Trần Thị X.

Về con chung: Giao anh Lê Văn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Thùy D, sinh ngày 25 tháng 3 năm 2017 (hiện cháu đang ở với anh T). Anh T không yêu cầu chị X phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Văn T - Trần Thị X"
  • Tòa quyết gì? Cho anh Lê Văn T được ly hôn với chị Trần Thị X.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/HNGĐ-ST
Ngày 18 - 7 - 2022
“Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Duy Lục;

2. Ông Nguyễn Ngọc Triển;

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2022/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022 về việc ly hôn, phân chia con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Bị đơn: Chị Trần Thị X, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện các lời khai tiếp theo tại phiên toà, nguyên đơn anh Lê Văn T trình bày: Anh và bị đơn chị Trần Thị X kết hôn ngày 05/8/2016 và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đăng ký và cấp Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật. Việc kết hôn của anh là tự nguyện, không bị đe dọa, ép buộc hay cưỡng ép kết hôn. Sau khi kết hôn chị X về chung sống cùng gia đình anh T tại thôn S, xã N ngay. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 8/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trong cuộc sống vợ chồng xẩy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xẩy ra va chạm dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Anh và chị X đã sống ly thân từ đó đến nay, trong thời gian ly thân thì vợ chồng đã bỏ mặc không quan tâm, chăm sóc hay giúp đỡ gì đến nhau trong cuộc sống.

Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị X.

Bị đơn chị Trần Thị X tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình chuẩn bị xét xử, chị X trình bày: Chị thừa nhận toàn bộ lời trình bày của nguyên đơn về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng và thời gian vợ chồng sống ly thân là đúng. Nay anh T xin ly hôn, chị đồng ý, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị và anh T không thể đoàn tụ được nữa.

Về con chung: Anh Lê Văn T và chị Trần Thị X đều thừa nhận vợ chồng có một con chung là Lê Thùy D, sinh ngày 25/3/2017 (hiện cháu đang ở với anh T). Ly hôn anh Tvà chị X đều thống nhất để anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D. Anh T và chị X đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản có cho vay, khoản nợ, đất nông nghiệp và công sức lao động: Anh Lê Văn T và chị Trần Thị X đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến thời điểm thời điểm xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Thụ lý và thông báo về việc thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng trong vụ án; chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử, ban hành và gửi thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát theo đúng quy định. Thẩm phán đã thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không kiến nghị gì về tố tụng.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Xử: Cho anh Lê Văn T được ly hôn với chị Trần Thị X.

Về con chung: Giao cho anh Lê Văn T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thùy D, sinh ngày 25/3/2017 (hiện cháu đang ở với anh T). Anh T và chị X đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, đất nông nghiệp và công sức: Không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Lê Văn T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn chị Trần Thị X, chị X có nơi cư trú tại: Xã T, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên quá trình thụ lý, giải quyết vụ án chị X đã có quan điểm lựa chọn và giải quyết vụn án anh T và chị X đã có biên bản thỏa thuận về việc lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường giải quyết vụ án nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường theo quy định tại các Điều 28, 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2]. Về tố tụng: Bị đơn chị Trần Thị X tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[3]. Về nội dung: Anh Lê Văn T kết hôn ngày 05 tháng 8 năm 2016 và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đăng ký và cấp giấy chứng nhận theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và việc kết hôn là tự nguyện. Không thuộc trường hợp bị cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn. Quá trình chung sống do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xẩy ra va chạm và đã sống ly thân từ khoảng tháng 8/2017. Trong thời gian ly thân thì vợ chồng đã bỏ mặc không quan tâm, chăm sóc hay giúp đỡ gì đến nhau trong cuộc sống nữa. Anh T và chị X đều xác định tình cảm vợ chồng là không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và đều đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị X đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận xử cho anh T và chị X được ly hôn.

[3]. Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh do Ủy ban nhân dân xã T, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cấp và lời trình bày của các đương sự xác định anh T và chị X có một con chung là Lê Thùy D, sinh ngày 25/3/2017 (hiện cháu đang ở với anh T). Chị X đồng ý để anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D. Việc Thiết trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D là phù hợp, đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu D. Nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản có cho vay, khoản nợ, đất nông nghiệp và công sức lao động: Do anh Lê Văn T và chị Trần Thị X đều không yêu cầu Toà án giải quyết; nên Hội đồng xét xử không xét. Sau khi ly hôn nếu các đương sự có tài sản và có đề nghị thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo qui định của pháp luật.

[5] Về án phí: Anh Lê văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/NQ - UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Cho anh Lê Văn T được ly hôn với chị Trần Thị X.

2. Về con chung: Giao anh Lê Văn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Thùy D, sinh ngày 25 tháng 3 năm 2017 (hiện cháu đang ở với anh T). Anh T không yêu cầu chị X phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0005502 ngày 18 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành dân sự huyện Vĩnh Tường. Xác nhận anh Lê Văn T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Vĩnh Tường;

- Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;

- UBND xã N, Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (để biết);

- UBND xã T, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (để biết);

Nguyễn Hồng Giang

- Lưu hồ sơ vụ án.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phùng Văn Thông

Nguyễn Ngọc Triển

Nguyễn Hồng Giang Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Vĩnh Tường;

- Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;

- UBND xã Vân Xuân, Vĩnh Tường (để biết);

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phùng Văn Thông

Nguyễn Ngọc Triển

Nguyễn Hồng Giang Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Vĩnh Tường;

- Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;

- UBND xã Vân Xuân, Vĩnh Tường (để biết);

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thái Hoà

Đặng Văn Minh

Nguyễn Xuân Trọng

Cỡ chữ