vanban.org

Bản án 26/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Kha Th L được ly hôn với Anh V Đ Ph.

Con chung: Giao cháu V Ph L, sinh ngày 02/07/2016 cho chị Kha Th L chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Kha Th L được ly hôn với Anh V Đ Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T D
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:26/2022/HNGĐ-ST
Ngày 16- 12- 2022
V/v: Tranh chấp hôn nhân & gia
đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Moong Công Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Xồng Bá Nỏ

Ông Lữ Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Quốc Ất - Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Phùng Tiến Chương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 130/2022/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXX-ST ngày 30 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Kha Th L, sinh năm 1997. Vắng mặt (Có đơn xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Bản Nh, thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An.

2. Bị đơn: Anh V Đ Ph. Sinh năm 1993. Vắng mặt (Có đơn xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Địa chỉ: Bản Nh, thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn nộp ngày 03 tháng 10 năm 2022 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Kha Th L trình bày:

- Về tình cảm: Chị Kha Th L và anh V Đ Ph tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2016. Chị L và anh Ph đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạch Giám, huyện T D, tỉnh Nghệ An vào ngày 01/12/2016 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn chị L và anh Ph sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng sống tính cách không hợp nhau bất đồng quan điểm sống, dẫn đến trong cuộc sống phát sinh quá nhiều mau thuận nên vợ chồng cái vã nhau thường xuyên, xúc phạm lẫn nhau thậm tệ. Nên từ cuối năm 2019 vợ chồng chị L và anh Ph sống ly thân nhau từ năm 2019. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị L có nguyện vọng được ly hôn với anh Ph để ổn định cuộc sống và công việc.

- Về con chung: Chị Kha Th L và anh V Đ Ph có 01 con chung: Cháu V Ph L, sinh ngày 02/7/2016 hiện cháu sống cùng chị tại bản Nh, thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An;. Nếu ly hôn chị L có nguyện vọng nuôi cháu V Đ Ph. Về cấp dưỡng tiền nuôi con hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản: Chị L và anh Ph tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 04 tháng 11 năm 2022 bị đơn anh V Đ Ph trình bày:

Về tình cảm: Anh Ph và chị Kha Th L tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2016 và đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạch Giám (Nay thuộc thị trấn Thạch Giám), huyện T D, tỉnh Nghệ An vào ngày 01/12/2016 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn anh Ph và chị L sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, mục đích hôn nhân không đạt được dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị L có nguyện vọng ly hôn với anh Ph thì anh đồng ý ly hôn để ổn định cuộc sống và công việc.

Về con chung: Anh V Đ Ph và chị Kha Th L có 01 con chung là cháu V Ph L, sinh ngày 02/07/2017. Hiện cháu sống cùng chị L tại bản Nh, thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn anh Ph cũng có nguyện vọng vì anh đang đi làm ăn xa nên anh Ph để cho chị L được chăm sóc và nuôi dưỡng cháu V Ph L. Về cấp dưỡng anh Ph và chị L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng:

Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với nguyên đơn, bị đơn: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Kha Th L. Về con chung giao cháu cháu V Ph L sinh ngày 02/7/2016 cho chị Kha Th L chăm sóc nuối dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành; Về cấp dưỡng: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Anh Ph và chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh V Đ Ph có hộ khẩu thường trú tại bản Nh, thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Căn cứ Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Kha Th L và bị đơn Anh V Đ Ph thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Ph kết hôn với nhau vào năm 2016 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được Ủy ban nhân dân xã Thạch Giám ( Nay là thị trấn Thạch Giám), huyện T D, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn tại số 25/2016 ngày 01/12/2016 vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.

Nội dung:

1. Tình trạng hôn nhân: Chị L và anh Ph trong quá trình sống chung bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và đã sống ly thân với nhau, cả hai đều có nguyện vọng được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị L và anh Ph đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

2. Con chung: Chị L và anh Ph có 01 con chung là cháu V Ph L, sinh ngày 02/7/2016. Hiện nay cháu đang sống với chị Kha Th L. Chị L và anh Ph đều có nguyện vọng cháu ở với chị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành. Anh Ph và chị L đều không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy nguyện vọng của các bên là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, cũng như quy định của pháp luật nên cần chấp nhận nguyện vọng của các bên là phù hợp.

3. Tài sản, nợ chung: Chị L và anh Ph đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Án phí và quyền kháng cáo: Chị Kha Th L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, và Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 47 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Kha Th L được ly hôn với Anh V Đ Ph.

2. Con chung:

- Giao cháu V Ph L, sinh ngày 02/07/2016 cho chị Kha Th L chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành.

- Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Ph

- Anh Ph có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Án phí: Chị Kha Th L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã theo biên lai số 0010721 ngày 01/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

Cỡ chữ