- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Bích T và anh Hồ Minh T được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HNGĐ - ST Ngày: 29/03/2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Quyến
2. Ông Bùi Văn Phục
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
Ngày 29 tháng 03 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 450/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2021, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích T, sinh năm: 1995; Địa chỉ: ấp 8, xã H, huyện P, tỉnh H; Chổ ở hiện nay: ấp L, xã H, huyện P, tỉnh H (có mặt)
Bị đơn: Anh Hồ Minh T, sinh năm: 1993; Địa chỉ: ấp 8, xã H, huyện P, tỉnh H (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 01/12/2021, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Bích T trình bày:
Chị và anh Hồ Minh T làm lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2014, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống và không thật sự quan tâm chăm sóc cho nhau, từ đó dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng cũng đã chính thức ly thân từ tháng 05/2021 đến nay, trong suốt quá trình ly thân anh chị không hàn gắn đoàn tụ được.
Về con chung: có 01 con chung là Hồ Trần Minh D, sinh ngày: 31/10/2015, hiện tại chị T đang nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: không yêu cầu
Về nợ chung: Không có.
Nay chị Trần Thị Bích T yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Minh T; Về con chung: chị Trần Thị Bích T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Hồ Trần Minh D, sinh ngày: 31/10/2015 đến khi trưởng thành (tròn 18 tuổi), yêu cầu anh Hồ Minh T phải cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật; Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết; Về nợ chung: không có.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Hồ Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không đến Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: anh Hồ Minh T đã được Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Bích T và anh Hồ Minh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị không thật sự tin yêu nhau và không quan tâm chăm sóc cho nhau, từ đó dẫn đến mất hạnh phúc gia đình và chính thức ly thân, trong suốt quá trình ly thân anh chị cũng không hàn gắn đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án anh T biết chị T xin ly hôn nhưng vẫn không đến Tòa án giải quyết, điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp.
Về con chung: có 01 con chung là Hồ Trần Minh D, sinh ngày: 31/10/2015, chị T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung, xét thấy từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu D được chị T nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo. Vì vậy xét về điều kiện mọi mặt nhằm bảo đảm quyền lợi và cũng cần thiết ổn định môi trường sống cho cháu D, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Đối với việc chị T yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật là phù hợp, nên Hội đồng xét xử áp dụng 1/2 mức lương cơ bản do Nhà nước quy định là 745.000 đồng, để buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 745.000 đồng, theo phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng. Dành quyền thăm nom và chăm sóc con chung cho anh T, không ai có quyền cản trở.
Về tài sản chung: Đương sự không ai yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Đương sự khai không có, nên không đề cập giải quyết
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Án phí cấp dưỡng nuôi con: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Các Điều 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Bích T và anh Hồ Minh T được ly hôn.
Về con chung: chị Trần Thị Bích T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Hồ Trần Minh D, sinh ngày: 31/10/2015, đến khi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Anh Hồ Minh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 745.000 đồng cho đến khi cháu D trưởng thành (tròn 18 tuổi). Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Dành quyền thăm nom và chăm sóc con chung cho anh T không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết
Về nợ chung: Đương sự khai không có, nên không đề cập giải quyết
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Bích T phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007663 ngày 15/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án phí cấp dưỡng: Anh Hồ Minh T phải nộp 300.000 đồng
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND h. Phụng Hiệp; - THA h. Phụng Hiệp; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phạm Tiến Dũng |