vanban.org

Bản án 26/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” của chị Phạm Thị M đối với anh Trương Văn T.

Xử cho chị M được ly hôn với anh T. Về nuôi con chung: Giao cháu Trương Tiến Đ, sinh ngày 18/7/2020 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN GIỮA CHỊ M VÀ ANH T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” của chị Phạm Thị M đối với anh Trương Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 20-5-2022
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thanh Phương.

2. Ông Lâm Ngọc Trao.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngọc Thị Ngoan – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 76/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị M, sinh năm 2000.

Bị đơn: Anh Trương Văn T, sinh năm 1992.

Cùng đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Chị M và anh T đều xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn chị Phạm Thị M trình bày: Chị và anh Trương Văn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 71 ngày 17 tháng 09 năm 2019. Việc kết hôn giữa chị và anh T trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Đến tháng 10/2021 thì vợ chồng sống ly thân. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên chị M nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung là cháu Trương Tiến Đ, sinh ngày 18/7/2020. Sau khi ly hôn, chị M có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị M khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 19/5/2022.

Anh Trương Văn T vắng mặt tại phiên tòa và có ý kiến tại hồ sơ thể hiện: Anh và chị M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai vào năm 2019, việc đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây chị M đã cùng con về sinh sống với mẹ ruột, vợ chồng ly thân từ tháng 10/2021 cho đến nay. Anh xác định còn thương vợ, con nên không đồng ý ly hôn.

Anh và chị M có 01 con chung là cháu Trương Tiến Đ, sinh ngày 18/7/2020, hiện cháu đang sống cùng mẹ và bà ngoại. Trường hợp vợ chồng ly hôn, anh cũng đồng ý giao con cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng và tạm thời không cấp dưỡng nuôi con chung

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T khai vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh xin được xét xử vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị M được ly hôn với anh T. Về con chung: Giao cháu Đ cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tư cách tố tụng, quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Chị Phạm Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn T hiện đang sinh sống và đăng ký thường trú tại ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn”; nguyên đơn là chị Phạm Thị M, bị đơn là anh Trương Văn T và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Về tố tụng: Chị M và anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị M, anh T.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị M và anh Trương Văn T có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 71, ngày 17/9/2019, việc kết hôn do cả hai tự nguyện nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Chị M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh T do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau.

Trong quá trình lấy lời khai, anh T khai giữa vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn gì, anh rất thương yêu vợ, con và không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, anh thừa nhận từ tháng 10/2021 đến nay anh chị sống ly thân, anh sống cùng ba mẹ tại ấp C, xã P, huyện N, còn chị M cùng con và mẹ ruột sinh sống ở tại phòng trọ riêng. Anh T xác định vẫn còn thương vợ, con nhưng không đến Tòa làm việc, không tham gia hòa giải cũng như không có mặt tại phiên tòa xét xử thể hiện việc không có thiện chí hàn gắn gia đình. Anh T và chị M có thời gian ly thân từ tháng 10/2021 đến nay, như vậy cho thấy giữa anh T và chị M thực sự có mâu thuẫn. Anh T và chị M đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị M được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về nuôi con chung: Chị M và anh T có 01 con chung là Trương Tiến Đ, sinh ngày 18/7/2020.

Tại hồ sơ anh T không đồng ý ly hôn nhưng có ý kiến trong trường hợp vợ chồng ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng và tạm thời không cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử đồng ý giao cháu Đ cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: Các đương sự đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xét.

Về án phí: Chị M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 8; 56; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” của chị Phạm Thị M đối với anh Trương Văn T.

Xử cho chị M được ly hôn với anh T.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trương Tiến Đ, sinh ngày 18/7/2020 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh T được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung; nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xét.

2. Về án phí: Chị Phạm Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án Hôn nhân và gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007276 ngày 10 tháng 02 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Chị M và anh T được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ