- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN R TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26 / 2022/ HNGĐ - ST Ngày 27- 9 -2021 Về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN R, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Lê Thị Diếu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Văn Khánh.
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Nga.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Tiến Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện R, tỉnh Quảng Ngãi.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện R, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện R, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 118/2022/TLST- HNGĐ ngày 22/7/2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2022/QĐXXST - HNGĐ, ngày 22/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 573/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08/9/2022 của Toà án nhân dân huyện R, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1989.
Nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi.
Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Y, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi.
Bị đơn: Anh Đinh Quốc T1 - sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn Q, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi.
Chị H, anh T1 vắng mặt tại phiên tòa có lý do và có đơn xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày: Chị H và anh T1 quen nhau tự nguyện rồi đến với nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2011 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện R vào ngày 09/01/2012. Nhưng vì tuổi mới lớn nên chưa tìm hiểu kỹ về tính cách. Anh T1 sống không chia sẽ, gia trưởng, tiền bạc anh T1 tự nắm giữ không đưa cho vợ để lo cho sinh hoạt gia đình. Hai vợ chồng không có tiềng nói chung. Sự việc cũng đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần, anh T1 hứa sẽ thay đổi về cách cư xử với vợ, nhưng thời gian trôi qua anh T1 vẫn không thay đổi. Từ tháng 3/2022 đến nay chị H và anh T1 đã sống ly thân. Nay chị H cảm thấy tình cảm giữa chị H và anh T1 đã không còn cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Đinh Quốc T1.
-Về con chung: có 01 con chung tên: Đinh Nguyễn Thiên H1, sinh ngày 28/7/2014. Hiện nay con đang sống với H. Khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản chung: Không có.
-Về nợ chung: không có nợ chung.
- Án phí: theo quy định của pháp luật.
*Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn anh Đinh Quốc T1 trình bày:
Về hôn nhân: Trước đây do có người mai mối rồi sau đó có tìm hiểu nhưng không được nhiều rồi đến với nhau. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y vào năm 2012. Trong cuốc sống vợ chồng anh thừa nhận có gia trưởng về tiền bạc vì anh nghĩ làm dành dụm để dành cho vợ, con nên chi tiêu có phần hạn hẹp. Việc anh để dành tiết kiệm chỉ anh biết, vợ anh không biết. Nhưng anh vẫn chăm lo cho vợ và con. Vì chị H làm cũng để dành riêng tiền bạc cho bản thân nên anh T1 quyết định giữ tài sản do chính anh T1 làm ra chứ không cho chị H quản lý tiền bạc. Vì vậy hai vợ chồng có những xung đột. Từ Tháng 3/2022 cho đến nay hai vợ chồng đã sống ly thân. Anh T1 xét thấy còn tình cảm với chị H, anh mong muốn chị H cho anh cơ hội để sửa đổi. Anh T1 không đồng ý ly hôn. Trường hợp chị H cương quyết ly hôn thì anh T1 cũng đồng ý ly hôn.
-Về con chung: có 01 con chung tên: Đinh Nguyễn Thiên H1, sinh ngày 28/7/2014. Hiện nay con đang sống với H. Nếu như chị H cương quyết ly hôn thì anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có nợ chung.
-Án phí: Theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện R, tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện đúng quy định tại điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, 9, Khoản 1 Điều 56, Khoản 1, khoản 2 Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tuyên xử: Giải quyết cho chị Nguyễn Thị Kim H được ly hôn anh Đinh Quốc T1; Về con chung: Giao cháu Đinh Nguyễn Thiên H1, sinh ngày 28/7/2014 cho chị Nguyễn Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T1 chưa cấp dưỡng nuôi con. Người trực tiếp nuôi con và người không trực tiếp nuôi con thực hiện đúng các quy định về việc nuôi con chung theo các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gi đình. Về tài sản chung và nợ chung: trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Đinh Quốc T1, anh T1 có nơi cư trú ở xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện R, tỉnh Quảng Ngãi theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị H và anh T1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2012, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị H có yêu cầu ly hôn nên Toà án nhân dân huyện R, tỉnh Quảng Ngãi đã thụ lý là đúng quy định tại khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3] Tại phiên tòa ngày 08/9/2022, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H vắng mặt vì lý do con ốm phải nhập viện, bị đơn anh Đinh Quốc T1 đề nghị Tòa án hoãn phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa ngày 27/9/2022, nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh T1 có văn bản trình bày và thừa nhận mình có gia trưởng về cách quản lý tiền bạc và mong muốn Tòa án tạo điều kiện để hòa giải đoàn tụ, trường hợp chị H cương quyết ly hôn thì anh T1 cũng đồng ý ly hôn. Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải nhưng chị H cương quyết ly hôn.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh T1 đã trầm trọng. Chị H đã cho anh T1 cơ hội nhưng anh T1 không sữa đổi. Xét mâu thuẫn giữa chị H và anh T1 đã diễn ra trong thời gian dài, đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không giải quyết được và thực tế đến nay đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nên có căn cứ xác định đời sống chung của anh chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị Nguyễn Thị Kim H yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giải quyết cho chị Nguyễn Thị Kim H được ly hôn với anh Đinh Quốc T1 là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị H và anh T1 có 01 con chung tên Đinh Nguyễn Thiên H1, sinh ngày 28/7/2014. Khi ly hôn cả anh T1 và chị H đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi con.
Xét yêu cầu nuôi con của chị H, anh T1, HĐXX thấy:
Cháu Đinh Nguyễn Thiên H1, sinh ngày 28/7/2014 là con gái hiện đang sống cùng chị H và có bản trình bày nguyện vọng là được sống cùng với mẹ. Thời gian sống cùng chị H, cháu H1 phát triển tốt về sức khỏe, học tập cũng đảm bảo. Vì vậy, để đảm bảo cho cháu H1 tiếp tục học tập tại môi trường giáo dục quen thuộc của cháu, đảm bảo về sự phát triển mọi mặt của cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Đinh Nguyễn Thiên H1 cho chị Nguyễn Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H, anh T1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện R về việc giải quyết về vấn đề hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung giữa chị Nguyễn Thị Kim H và anh Đinh Quốc T1 là đúng quy định pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 260, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H.
1.Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim H được ly hôn anh Đinh Quốc T1.
2.Về con chung:
Giao cháu Đinh Nguyễn Thiên H1, sinh ngày 28/7/2014 cho chị Nguyễn Thị Kim H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị H không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nên không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.
Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 84, Điều 116 của Luật HNGĐ.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng mà chị H đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001596 ngày 21/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện R, tỉnh Quảng Ngãi, chị H đã nộp đủ án phí.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Quảng Ngãi; -VKSND huyện R; -Chi cục THADS huyện R; -UBND xã Y; -Các đương sự; - Lưu HS. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Diếu |