- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Anh T được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HNGĐ-ST Ngày 16/7/2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Kiều Trung
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Lan
2. Ông Bùi Quốc Thìn
- Thư kýphiên tòa: Ông Trương Quang Bình - Thư kýTòa án nhân dân huyện Bình Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân huyện Bình Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quý - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công Khi vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 116/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2022, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 7 năm 2022, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Anh T, sinh năm 1983; cư trú tại: Đội X, thôn L, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1981; cư trú tại: Đội X, thôn L, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[ Theo đơn khởi kiện, lời trình bày tại bản tự Khi và tại các buổi làm việc, nguyên đơn trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn N tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi theo giấy chứng nhận kết hôn số 17, ngày 04/5/2005.
Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng là do anh N cờ bạc, không lo làm ăn, không có trách nhiệm với con cái, mỗi lần vợ chồng nói chuyện là xảy ra cải vã, xung đột, xô xát lẫn nhau. Từ năm 2018 đến nay, vợ chồng không sống chung, không quan tâm, liên lạc với nhau. Vào năm 2020, chị đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng sau đó chị rút đơn khởi kiện, vợ chồng đoàn tụ nuôi con. Tuy nhiên, sau khi rút đơn khởi kiện thì vợ chồng không đoàn tụ được, tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, hiện nay anh N đã thuê nhà ở riêng, vợ chồng không còn sống chung. Nay chị nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể đoàn tụ sống chung được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
Về con chung: Giữa chị và anh N có hai con chung, gồm: Nguyễn Bảo K, sinh ngày 28/01/2006 và Nguyễn Minh Kh, sinh ngày 29/7/2008, hiện chị đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị yêu cầu anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ hàng tháng cho cả hai con, mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/tháng/01 con (2.000.000 đồng/tháng/02 con chung).
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn N có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Đội X, thôn L, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và nhiều lần triệu tập nhưng anh không đến Tòa án làm việc, cũng không trình bày ý kiến của mình.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên nhưng bị đơn không đến tham gia phiên tòa là không chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy giữa chị Phạm Thị Anh T và anh Nguyễn Văn N xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn sống chung với nhau, không còn khả năng đoàn tụ, vi phạm các quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
+ Về con chung: Xét thấy yêu cầu nuôi con chung của chị T là có căn cứ, phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng của con chung chưa thành niên, căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T.
+ Việc cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nôi con, căn cứ vào khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, buộc anh Nguyễn Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho hai con chung, mức cấp dưỡng như yêu cầu của chị T.
+ Về tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên không xét; về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
+ Buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm; buộc bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 17, ngày 04/5/2005 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, kết quả xác minh tình trạng hôn nhân và trình bày của chị T, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định chị T và anh N xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đúng quy định về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn tại các Điều 8, 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp và được pháp luật công nhận.
Chị T cho rằng giữa chị và anh N xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh N rượu chè, cờ bạc, không có trách nhiệm với con cái. Vào năm 2020, chị đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng sau đó rút đơn, vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, sau khi rút đơn khởi kiện thì vợ chồng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, không thể đoàn tụ được và hiện nay, vợ chồng không còn sống chung, không quan tâm, không liên lạc với nhau.
Anh Nguyễn Văn N không có ý kiến trình bày hay phản đối các tình tiết, sự kiện mà chị T đã nêu về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng cũng như các vấn đề khác nên theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì các tình tiết, sự kiện mà chị T đưa ra không phải chứng minh. Ngoài ra, anh N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh không trình bày ý kiến cũng như không tham gia hòa giải thể hiện anh không quan tâm, không có thiện chí hòa giải mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Qua kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thì thấy rằng giữa chị T và anh N có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn sống chung nên việc chị T yêu cầu ly hôn anh N là có căn cứ, phù hơp với tình trạng hôn nhân thực tế và quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
Về con chung: Hội đồng xét xử thấy rằng hiện chị T đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung, qua làm việc với cháu K và cháu Kh thì các cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ; trong khi đó, anh N không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu nuôi con của chị T. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị T; giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp trong nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Việc cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy việc cấp dưỡng cho con là nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nên việc chị T yêu cầu anh N cấp dưỡng hàng tháng cho cả hai con chung là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Án phí: Chị Phạm Thị Anh T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền chị đã nộp tạm ứng án phí; buộc anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ hàng tháng với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Đối với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 và Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, 227, 228, 235, 264, 266, 267, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Anh T được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo K, sinh ngày 28/01/2006 và cháu Nguyễn Minh Kh, sinh ngày 29/7/2008 cho chị Phạm Thị Anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn N được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm nom con chung. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các quy định khác của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ hàng tháng cho cả hai con chung; mức cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Bảo K là 1.000.000 đồng/tháng (một triệu đồng), mức cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Minh Kh là 1.000.000 đồng/tháng (một triệu đồng). Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án (ngày 16/7/2022) cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
Chị Phạm Thị Anh T là người đại diện cho các con chung chưa thành niên yêu cầu anh Nguyễn Văn N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và nhận tiền cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
5. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
6. Án phí:
6.1. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Phạm Thị Anh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu số tiền chị đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001538, ngày 09/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn.
6.2. Án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ hàng tháng: Buộc anh Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
7. Kể từ khi bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
9. Án xử công Khi, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nguyên đơn và bị đơn nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết công Khi tại trụ sở UBND xã nơi cư trú. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Bình Sơn;
- Chi cục THADS huyện Bình Sơn;
- UBND xã B (đăng ký kết hôn số 17, ngày 04/5/2005);
- Những người tham gia tố tụng;
(đã ký)
- Lưu hồ sơ, án văn.
Đoàn Kiều Trung Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Bình Sơn;
- Chi cục THADS huyện Bình Sơn;
- UBND xã Bình Long (đăng ký kết hôn số 17, ngày 04/5/2005);
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Đoàn Kiều Trung
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Bình Sơn; - Chi cục THADS huyện Bình Sơn; - UBND xã Bình Châu, huyện Bình Sơn (Đăng ký kết hôn số 166/2015, ngày 28/12/2015); - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Kiều Trung |