vanban.org

Bản án 26/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung là chiếc xe mô tô

hiệu Wave anpha, biển kiểm soát 67F1-175.38 của chị Neàng Quanh N Về hôn nhân: chị Neàng Quanh N được ly hôn với anh Chau Pr. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung là chiếc xe mô tô
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 26 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 08 - 4 - 2022
V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tò a: ông Nguyễn Văn Thiện.

Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Lâm Tới

2.Ông Chau Cương

- Thư ký phiên tòa: ông Chau Kim Sol – Là Thư ký củaTòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên tòa: ông Chau Rết – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 271/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp Xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 28/02/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/3/2022 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: chị Neàng Quanh N, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: ấp M, xã V, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang – có đơn xin xét xử vắng mặt.

2.Bị đơn: anh Chau Pr, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú: ấp V, xã A, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang – vắng mặt.

Người phiên dịch: ông Chau Xi Nê – phiên dịch viên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 23 tháng 7 năm 2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Neàng Quanh N trình bày: Được sự hợp tác của hai gia đình, năm 2014 chị và anh Pr tiến hành tổ chứ c lễ cướ i, có đăng ký kết hôn ngày 07/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã V huyện Tịnh Biên. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống ha ̣nh phúc, cho đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh Pr còn có quan hệ với người phụ nữ khác ở bên ngoài. Mặc dù cả hai đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện và tìm biện pháp hàn gằn nhưng không có kết quả, do đó vợ chồng sống ly thân từ đó đến Ny. Nhâ ̣n thấy tình cảm vợ chồng không còn , không thể tiếp tục chung sống được nữa , nên chi ̣ Quanh N yêu cầu được ly hôn vớ i anh Pr .

Chị N và anh Pr có 01 con chung tên: Neàng Kim Kh, sinh ngày 19/5/2017, hiện chị đang nuôi dưỡng. Ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tu ̣c nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Pr phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tại đơn khởi kiện, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng là chiếc xe mô tô hiệu Wave anpha, biển kiểm soát 67F1-175.38; tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, chị N đã rút yêu cầu đối với việc chia tài sản.

Nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Chau Pr được Tòa án gửi các văn bản tố tụng, triệu tập đến Tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh Pr đều vắng mặt mà cũng không có gửi kiến cho Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Ti ̣nh Biên tỉnh An Giang phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cơ bản đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Thẩm phán còn để án quá thời hạn chuẩn bị xét xử.

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định tại các Điều 70,71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

- Về đề xuất hướng giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Neàng Quanh N đối với anh Chau Pr.

+ Về con chung: Giao con chung tên Neàng Kim Kh, sinh ngày 19/5/2017 cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dạy, anh Pr không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không có yêu cầu.

+ Về tài sản: Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản của chị Neàng Quanh N.

- Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Kiến nghị Tòa án cần quan tâm, sớm đưa vụ án ra xét xử đúng quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng:

Chị Neàng Quanh N có yêu cầu xin ly hôn với anh Chau Pr hiện có địa chỉ cư trú và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã A, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, theo qui định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Chau Pr được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2].Về nội dung

[2.1].Quan hệ hôn nhân:

Chị Neàng Quanh N và anh Chau Pr tự nguyện đi đến hôn nhân, được hai gia đình tổ chức lễ cưới, sau đó có đi đăng k ý kết hôn tại UBND xã xã V, huyện Tịnh Biên. Do vậy, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Theo chị Neàng Quanh N thì cuộc sống vợ chồng thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh Pr còn có quan hệ với người phụ nữ khác ở bên ngoài. Mặc dù cả hai đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện và tìm biện pháp hàn gắn đoàn tụ, nhưng không có kết quả, do đó vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, không thể hàn gắn đoàn tụ nên yêu cầu được ly hôn với anh Chau Pr.

Anh Chau Pr không gửi kiến đến Tòa án, không tham gia các phiên hòa giải và không tham gia phiên tòa. Tại Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 13/3/2022 thì được biết: chị N và anh Pr có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Văn Giáo huyện Tịnh Biên. Cuộc sống ban đầu thấy vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng đến khoảng năm 2019 thì hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, nên ngày 07/5/2019 anh Pr bỏ nhà đi và hai người sống ly thân cho đến nay, từ khi sống ly thân không thấy anh Pr về thăm vợ, con.

Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” . Như vậy, xuất phát từ mâu thuẫn vợ chồng, chị N và anh Pr đã sống từ ly thântừ năm 2019 đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai người không tạo cơ hội để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ, chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, nếu có duy trì để tiếp tục chung sống thì cũng không có hạnh phúc. Do đó yêu cầu của chị N được ly hôn với anh Pr là có cơ sở chấp nhận.

[2.2]. Về con chung:

Chị N và anh Pr có 01 con chung tên: Neàng Kim Kh, sinh ngày

19/5/2017. Ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tu ̣c nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Pr phải cấp dưỡng nuôi con . Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Neàng Kim Kh được chị Neàng Quanh N trực tiếp nuôi dưỡng, để đảm bảo sự phát triển tâm lý bình thường của đứa trẻ, nên tiếp tục giao cháu Neàng Kim Kh, sinh ngày 19/5/2017 cho chị Neàng Quanh N được chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

Việc nuôi dạy con không cố định, vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Các đương sự không có yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập.

[2.3]. Về tài sản chung: Chị Neàng Quanh N cầu rút yêu cầu về việc giải quyết tài sản chung là chiếc xe mô tô hiệu Wave anpha, biển kiểm soát 67F1-175.38. Đây là sự tự nguyện định đoạt của đương sự, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản của chị N theo điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.4]. Nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[3]. Về án phí: chị Neàng Quanh N là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình đã nộp.

[4]. Đề nghi ̣ của Viê ̣n Kiểm sát phù hợp vớ i nhâ ̣n đi ̣nh của Hô ̣i đồng xét xử

nên được chấp nhâ ̣n.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung là chiếc xe mô tô

hiệu Wave anpha, biển kiểm soát 67F1-175.38 của chị Neàng Quanh N

Căn cứ Điều 14, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228,Điều 266, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: chị Neàng Quanh N được ly hôn với anh Chau Pr.

Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2014, quyển số 01/2014, ngày 07 tháng 02 năm 2014 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: chị Neàng Quanh N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Neàng Kim Kh, sinh ngày 19/5/2017. Anh Chau Pr không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: chị Neàng Quanh N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004733, ngày 26 tháng 9 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ