vanban.org

Bản án 26/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Giao con chung là cháu Lê Thùy D, sinh ngày 02/8/2014 cho anh Lê Thế Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Cao Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Tr. Chị H có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thể… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "thay đổi người nuôi con sau ly hôn Trường - Hương"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THIỆU HÓA
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 7 - 2022
V/v: thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trịnh Thị Hạnh.

2. Bà Trần Thị Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Tố Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh – kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2022 về việc Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22/6/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Thế Tr, sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn Th Nh, xã Th Th1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Chị Cao Thị H, sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn Th Nh, xã Th Th1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt anh Tr, có mặt chị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 17 tháng 02 năm 2022, bản tự khai ngày 18 tháng 02 năm 2022, cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là anh Lê Thế Tr trình bày:

Anh và chị Cao Thị H kết hôn với nhau năm 2013. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc nên năm 2020 vợ chồng ly hôn theo bản án số 30/2020/HNGĐ-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh hóa. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Thùy D, sinh ngày 02/8/2014 và cháu Lê T A, sinh ngày 08/12/2016. Tại bản án số 30 ngày 29/9/2020 Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa quyết định giao cháu Lê Thùy D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê T Acho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Kể từ thời điểm bản án số 30 có hiệu lực cho đến nay chị H không đón con về nuôi dưỡng, chị H đi làm ăn xa ngoài Hà Nội không có nhà, nên anh Tr là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung từ thời điểm ly hôn đến nay. Chị H không trực tiếp nuôi con cũng không có trách nhiệm gì đối với con. Vì vậy để ổn định cuộc sống và không sáo trộn tâm lý của các con, anh Tr đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, giao cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là cháu Lê Thùy D và cháu Lê Tuấn Anh, anh Tr không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại bản tự khai ngày 07 tháng 3 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án chị Cao Thị H trình bày:

Chị và anh Lê Thế Tr được Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa giải quyết ly hôn theo bản án số 30 ngày 29/9/2020. Quyết định của bản án giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thùy D, sinh ngày 02/8/2014; giao cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê T A, sinh ngày 08/12/2016. Tuy nhiên sau khi ly hôn từ tháng 10/2020 đến nay chị H không đón cháu Lê Thùy D về để trực tiếp nuôi dưỡng với lý do thời gian chị H đi chữa bệnh, nên chị H để 02 chị em ở với anh Tr cho có chị có em. Nay anh Tr làm đơn thay đổi người nuôi con, chị H không đồng ý, vì sức khỏe của chị đã ổn định và cũng có thời gian, điều kiện để chăm sóc con. Vì vậy chị H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa giải quyết cho chị được nuôi con chung là cháu Lê Thùy D.

Tại bản tự khai ngày 18/02/2022 cháu Lê Thùy D là con chung của anh Lê Thế Tr và chị Cao Thị H trình bày từ khi bố mẹ ly hôn, Tòa án giao cháu cho mẹ Cao Thị H trực tiếp nuôi dưỡng nhưng mẹ không đến đón, mẹ thường xuyên đi làm xa nên cháu vẫn ở với bố và ông bà nội. Nhà ông bà ngoại và ông bà nội gần nhau nhưng rất ít khi mẹ đến thăm cháu. Từ nhỏ cháu và em ở cùng bố và ông bà nội. Vì vậy nguyện vọng của cháu mong muốn được ở với bố Lê Thế Tr để bố nuôi ăn học.

Tại phiên tòa anh Tr vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị thay đổi nuôi con sau ly hôn, anh Tr đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thùy D, vì chị H không có trách nhiệm với con và hiện nay vẫn đang điều trị bệnh không có khả năng chăm sóc con tốt. Anh Tr trình bày anh đủ điều kiện nuôi dưỡng cả hai con chung vì anh làm nghề ốp lát đá trong xây dựng thu nhập trung bình 15.000.000đ/tháng, thu nhập của anh ổn định. Tại phiên tòa chị H vẫn tha thiết được nuôi cháu Lê Thùy D, chị cũng trình bày chị làm phục vụ cho quán ăn thu nhập khoảng 8.000.000đ đến 9.000.000đ/tháng, thời gian đi làm chị sẽ sắp xếp về với con một tháng hoặc tháng rưỡi về một lần thăm con, còn chủ yếu nhờ bố mẹ đẻ chăm con nếu được Tòa án giao cho nuôi con, sau này chị sẽ sắp xếp về làm gần nhà.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa có quan điểm:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa xét xử, thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa không có yêu cầu hoặc kiến nghị gì cần khắc phục vi phạm về tố tụng.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Đề nghị HĐXX xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Giao con chung là cháu Lê Thùy D, sinh ngày 02/8/2014 cho anh Lê Thế Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Tr.

Về án phí: Anh Lê Thế Tr phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ. H§XX nhËn ®Þnh.

[1].VÒ tè tông: Anh Lê Thế Tr khởi kiện yêu cầu được thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với cháu Lê Thùy D, cháu Lê Thùy D, sinh ngày 02/8/2014 là con chung của chị Cao Thị H và anh Lê Thế Tr, cháu Dương có hộ khẩu và nơi cứ trú tại Thôn Thống Nhất, xã Th Th1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nên căn cứ vào điều 28; điều 35; khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

[2].VÒ nội dung:

- Anh Lê Thế Tr và chị Cao Thị H có 02 con chung là cháu Lê Thùy D, sinh ngày 02/8/2014 và cháu Lê Tuấn Anh, sinh ngày 08/12/2016. Tại bản án số 30 ngày 29/9/2020 Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa quyết định giao cháu Lê Thùy D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê T Acho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Từ khi ly hôn đến nay cháu Lê Thùy D vẫn ở cùng anh Lê Thế Tr, chị H không đến đón con theo quyết định của bản án số 30 ngày 29/9/2020. Chị H cho rằng bản thân bị bệnh chưa đón con được giờ đã ổn định nên sẽ đón con về nuôi, vì vậy chị H không đồng ý thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Tuy nhiên trong khoảng thời gian anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng chị H không có trách nhiệm cũng như không đến thăm nom con. Mặt khác tại bản tự khai ngày 18/02/2022 cháu Lê Thùy D trình bày nguyện vọng được tiếp tục ở với bố để bố nuôi ăn học.

Ngày 18/3/2022 Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa phối hợp với chính quyền địa phương xã Th Th1, xác minh trường hợp cháu Lê Thùy D lâu nay ở với ai và thu nhập của anh Tr. Sau khi làm việc với chính quyền địa phương xác định được lâu nay cháu Lê Thùy D ở cùng anh Tr và bố mẹ đẻ anh Tr, anh Tr làm nghề thợ xây, thu nhập đủ để trang trải cuộc sống của bố con, mặt khác anh Tr được bố mẹ hỗ trợ trong việc nuôi dạy các con. Hội đồng xét xử xét thấy lâu nay cháu Lê Thùy D đang ở với anh Tr ổn định, tránh xáo trộn cuộc sống của các cháu nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao cháu Lê Thùy D, sinh ngày 02/8/2014 cho anh Lê Thế Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp; Việc nuôi dưỡng con cái chưa thành niên là nghĩa vụ của cha mẹ, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án anh Tr cho rằng thu nhập của anh đủ để trang trải cuộc sống và đảm bảo nuôi con tốt nên anh Tr không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Việc không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung của anh Tr là hoàn toàn tự nguyện. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Lê Lê Thùy D, sinh ngày 02/8/2014 cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị Hươg không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.

[3].Về án phí: Anh Lê Thế Tr phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39; điều 271; điều 273; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Giao con chung là cháu Lê Thùy D, sinh ngày 02/8/2014 cho anh Lê Thế Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Cao Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Tr.

Chị H có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Anh Lê Thế Tr phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng)

3. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Anh Tr, chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ