- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Vụ án dân sự"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H, người được uỷ quyền ông Hoàng Như Ý giám đốc phòng giao dịch M H ngân hàng L V đối với ông C Th H và bà L Th H.
- Căn cứ chính? Điều 158 Bộ luật Dân sự; Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 26/2022/DS-ST Ngày: 28/12/2022 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quốc Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Đinh Thị Của
Bà: Cao Thị Thu Ngà
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2022/TLST – DS ngày 11/8/2022 về “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST- DS ngày 17/11/2022 của TAND huyện Minh Hoá giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng L V
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ph D S – Tổng giám đốc
Địa chỉ: Thaiholdings, số 210 Tr Qu Kh, quận H K, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ng V Ch – Giám đốc ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình
Người được ủy quyền lại: Ông H Nh Ý – Giám đốc ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H. (Văn bản ủy quyền số: 691/2022/UQ-LienVietPostBank ngày 27/7/2022)
Địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn Qu Đ, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Có mặt
2. Đồng bị đơn: Ông C Th H – sinh năm 1985 và bà L Th H – sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn L Kh, xã H H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 05/8/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/12/2019 ông C Th H và bà L Th H có vay vốn tại ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H theo hợp đồng tín dụng số HDTD35D2019005 số tiền vay 350.000.000 đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 10%/năm trong 06 tháng đầu tiên kể từ ngày tiếp theo của ngày bên vay bắt đầu nhận nợ, sau đó lãi suất cho vay sẽ được ngân hàng tự động thực hiện điều chỉnh tăng 0,5%/năm so với lãi suất ban đầu. Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua xe theo hợp đồng mua bán số 0712-2019/HĐKT-TB ngày 07/12/2019 ký giữa ông C Th H và công ty TNHH Th B, với thời hạn cho vay là 48 tháng, hạn trả gốc kỳ cuối ngày 25/12/2023. Sau đó đến ngày 28/9/2021, ông C Th H và bà L Th H tiếp tục vay vốn tại ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H theo hợp đồng tín dụng số HDTD35D2021110 số tiền vay 30.000.000 đ (Ba mươi triệu đồng), lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 13,5%/năm. Mục đích vay vốn: Mua sắm nội thất gia đình, với thời hạn cho vay là 12 tháng, hạn trả gốc kỳ cuối ngày 28/9/2022. Nhưng trong thời gian vay vốn ông C Th H và bà L Th H không chấp hành nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo quy định, vi phạm các thỏa thuận đã ký tại hồ sơ vay vốn, để nợ quá hạn dài ngày. Tính đến ngày 28/12/2022, dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng số HDTD35D2019005 là 129.869.262 đồng và lãi là 17.816710 đồng. Dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng số HDTD35D2021110 là 20.654.513 đồng, dư nợ lãi là 1.253.566. Tổng dư nợ gốc của 02 hợp đồng tín dụng là 150.523.775 đồng, nợ lãi là 19.070.079 đồng.
Vì vậy Ngân hàng L V ủy quyền cho ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H khởi kiện buộc ông C Th H và bà L Th H phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ gốc và lãi tại ngân hàng tính đến ngày 28/12/2022 là 169.594.051 đồng.
Về phía bị đơn: Mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành hòa giải giữa các bên, giải quyết vụ án nhưng buộc ông C Th H và bà L Th H vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải, lấy lời khai của đương sự được. Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa đã tiến hành xác minh tại Công an xã H H nơi ông C Th H và bà L Th H cư trú được biết buộc ông C Th H và bà L Th H hiện đang sinh sống và có mặt tại địa phương, ông C Th H và bà L Th H biết được vụ việc khởi kiện tại Tòa án nhưng cố tình không hợp tác để giải quyết vụ án mà dấu địa chỉ của mình.
Đại diện VKSND huyện Minh Hóa phát biểu ý kiến về tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia tố tụng và đưa ra quan điểm xét xử đối với vụ án nên Hội đồng xét xử xem xét để quyết định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng, căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa.
Về nội dung: Ngày 25/12/2019 ông C Th H và bà L Th H ký hợp đồng tín dụng số HDTD35D2019005 với ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H vay số tiền 350.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm, thời hạn 48 tháng. Tiếp đó đến ngày 28/9/2022 ông C Th H và bà L Th H tiếp tục ký hợp đồng tín dụng số HDTD35D2021110 với ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 13,5%/năm, thời hạn 12 tháng là có thực tế, tự nguyện và đúng quy định của pháp luật. Nhưng trong thời gian vay vốn ông C Th H và bà L Th H không chấp hành nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo quy định, vi phạm các thỏa thuận đã ký tại hồ sơ vay vốn, để nợ quá hạn dài ngày. tính đến ngày 28/12/2022 dư nợ gốc và lãi phát sinh của hai hợp đồng là 169.594.051 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc để thu hồi nợ nhưng không đạt kết quả, việc hai bên ký hợp đồng tín dụng là hoàn toàn tự nguyện. Vì vậy ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H khởi kiện vụ án là có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy ông C Th H và bà L Th H đã vi phạm hợp đồng tín dụng, không trả tiền gốc và tiền lãi đúng hạn. Vì vậy căn cứ các điều 158, 164, 166, 463, 466, 468, khoản 2 điều 470 bộ luật dân sự, các điều 91, 95 luật tổ chức tín dụng năm 2010 buộc ông C Th H và bà L Th H có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H số tiền gốc và lãi của hai hợp đồng số tiền là 169.594.051 đồng.
Về án phí: Ông C Th H và bà L Th H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 8.479.702 đồng.
Ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí 4.500.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 điều 26 bộ luật tố tụng dân sự 2015, các điều 158, 164, 166, 463, 466, 468, khoản 2 điều 470 Bộ Luật dân sự năm 2015; Điều 91, 98 Luật tổ chức tín dụng.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H, người được uỷ quyền ông Hoàng Như Ý giám đốc phòng giao dịch M H ngân hàng L V đối với ông C Th H và bà L Th H.
Buộc ông C Th H và bà L Th H có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H số tiền dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng số HDTD35D2019005 là 129.869.262 đồng và lãi phát sinh là 17.816710 đồng. Dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng số HDTD35D2021110 là 20.654.513 đồng và lãi phát sinh là 1.253.566 đồng tính đến ngày 28/12/2022 cho đến khi ông C Th H và bà L Th H trả hết nợ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay
4.Về án phí: Ông C Th H và bà L Th H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 8.479. 702 đ (Tám triệu bốn trăm bảy mươi chín ngàn bảy trăm lẻ hai đồng).
Ngân hàng L V chi nhánh Quảng Bình phòng giao dịch M H không phải chịu án phí và được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp là 4.500.000 đồng theo biên lai số 0000657 ngày 11/8/2022 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, vắng mặt đồng bị đơn. Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/12/2022), đồng bị đơn có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Minh Hóa; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Chi cụcTHADS huyện Minh Hóa; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký ) Trương Quốc Hoàn HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |