vanban.org

Bản án 26/2022/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) đối với ông I và bà L về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.

Buộc ông I và bà L có nghĩa vụ thanh toán cho ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) số tiền 205.668.000 đồng (Hai trăm lẻ năm triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng). Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) đối với ông I và bà L về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/DS-ST
Ngày: 12/04/2022
V/v tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Hồng Chi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Văn Vĩnh

2. Bà Ngô Như Ý

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Nhiều, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ Tiên, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 04 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 24/2022/TLST-DS ngày 26 tháng 01 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 03 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông B, sinh năm 1994 (Là Chủ Hộ Kinh doanh C). HKTT: Thôn D, xã Đ, huyện E, tỉnh Quảng Bình. Chỗ ở hiện nay: Ấp G, xã M, huyện N, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn ông B là: Bà H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện E, tỉnh Sóc Trăng. Theo văn bản ủy quyền ngày 18/01/2022 (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Đồng bị đơn: Ông I, sinh năm 1972 và bà L, sinh năm 1969. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Ô, xã P, huyện Q, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở hiện nay: Ấp R, xã S, huyện A, tỉnh Bạc Liêu (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 01 năm 2022, các lời khai tại Tòa án, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) là bà H, trình bày: Vào ngày 24/11/2017, ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) cùng với ông I và bà L có thỏa thuận về việc mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản nhằm mục đích bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản cho ông I và bà L nuôi tôm. Đến ngày 16/01/2019, ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) cùng với ông I và bà L tiến hành ký kết Hợp đồng mua bán, thống nhất xác nhận tính đến ngày 16/01/2019, ông I và bà L còn nợ ông B (là chủ Hộ kinh doanh C) tổng số tiền mua thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản là 158.183.000 đồng.

Theo thỏa thuận tại hợp đồng mua bán, ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) tiếp tục bán cho ông I và bà L thức ăn nuôi tôm hiệu Việt Hoa Grobest, các nhãn hiệu khác cùng với thuốc, hóa chất dành cho nuôi trồng thủy sản. Quá trình giao nhận hàng hóa, hai bên sẽ ghi vào sổ theo dõi hàng hóa của mỗi bên; cụ thể: Ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) giao hàng cho ông I và bà L tại kho hàng theo đơn hàng hoặc hỗ trợ vận chuyển hàng hóa đến địa điểm của ông I và bà L nếu có thỏa thuận. Khi nhận hàng, bên ông I và bà L phải kiểm tra hàng và ký xác nhận việc giao nhận hàng.

Về phương thức thanh toán, ông I và bà L có nghĩa vụ thanh toán dứt điểm toàn bộ công nợ cho ông B (là chủ Hộ kinh doanh C) khi thu hoạch tôm.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) đã nhiều lần bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản cho ông I và bà L theo đúng đơn hàng yêu cầu đặt hàng của ông I và bà L. Tuy nhiên, ông I và bà L đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại khoản 2.2 Điều 2 của Hợp đồng mua bán đã ký kết. Do đó, ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) cùng với ông I và bà L tiến hành đối chiếu công nợ ngày 15/7/2020; theo đó, bà L xác nhận còn nợ ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) số tiền 205.668.000 đồng. Sau nhiều lần, ông B (là chủ Hộ kinh doanh C) cử nhân viên liên hệ và xuống nhà trực tiếp làm việc đề nghị thanh toán thì ông I và bà L đều không có thiện chí hợp tác, luôn có thái độ né tránh. Từ ngày 02/12/2021 đến nay, ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) chấm dứt hợp đồng mua bán với ông I và bà L.

Nay ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) yêu cầu ông I và bà L có nghĩa vụ thanh toán cho ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) tổng số tiền mua thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản còn nợ là 205.668.000 đồng; không yêu cầu ông I và bà L trả tiền lãi đối với số tiền còn nợ là 205.668.000 đồng.

Đồng bị đơn, ông I trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 3 năm 2022: Ông I là chồng của bà L. Vào ngày 16/01/2019, vợ chồng ông I có ký kết hợp đồng mua bán với ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C), thỏa thuận bên Hộ kinh doanh C sẽ cung cấp thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản cho vợ chồng ông I, vợ chồng ông I có thuê 09 công tầm cấy đất tại ấp R, xã S, huyện A, tỉnh Bạc Liêu để nuôi tôm; thỏa thuận thu hoạch tôm xong mới thanh toán tiền mua thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản và mua thiếu vụ tiếp theo; ông I thống nhất theo lời trình bày của ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) về phương thức thanh toán, giao nhận hàng trong quá trình giao dịch mua bán. Tuy nhiên, do nuôi tôm thất bại nên từ năm 2019 đến nay, vợ chồng ông I không thanh toán cho ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C). Đến ngày 15/7/2020, vợ của ông I là bà L có ký tên vào bảng đối chiếu công nợ xác nhận còn nợ ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) số tiền 205.668.000 đồng và ông I cũng thừa nhận hiện nay còn nợ ông B (là chủ Hộ kinh doanh C) số tiền 205.668.000 đồng. Nay ông I (Là chủ Hộ kinh doanh C) yêu cầu ông I và bà L thanh toán số tiền mua thức ăn còn nợ là 205.668.000 đồng và không yêu cầu tính lãi thì ông I đồng ý trả cho ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) tổng số tiền nuôi tôm và thuốc thủy sản còn nợ là 205.668.000 đồng nhưng ông I yêu cầu được trả số tiền còn nợ cho ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) mỗi một năm trả số tiền 2.000.000 đồng cho đến khi trả dứt nợ.

Đồng bị đơn, bà L: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa xét xử, bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để trình bày ý kiến và Tòa án có đến tại nhà lấy lời khai của bà L nhưng bà L không có mặt ở nhà nên Tòa án không ghi nhận được lời khai bà L. Do vậy, không có lời khai bà L trong hồ sơ vụ án. Ông I xác định bà L mới đi làm thuê ở tỉnh Bình Dương vài ngày và bà L cũng thống nhất với ý kiến của ông I và đồng ý thanh toán nợ theo yêu cầu của ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nam (Là chủ Hộ kinh doanh Tân Quang Minh) là bà Dương Gia An đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng bị đơn ông Nhu, bà Cười chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) đối với ông I và bà L về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. Buộc ông I và bà L thanh toán cho ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) tổng số tiền 205.668.000 đồng.

- Về án phí dân sự sơ thẩm, ông I và bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) khởi kiện yêu cầu ông I và bà L thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng mua bán ký kết ngày 16/01/2019. Đây là tranh chấp về hợp đồng theo quy định khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông I và bà L có địa chỉ cư trú tại ấp R, xã S, huyện A, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Ông I và bà L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông I và bà L vắng mặt không rõ lý do; không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; phía người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) là bà H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông I và bà L.

Về nội dung: Tại hợp đồng mua bán lập ngày 16/01/2019 do ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) cung cấp cho Tòa án có chữ ký và chữ viết của ông I và bà L, thể hiện ông I và bà L có mua của Hộ kinh doanh C các mặt hàng là thức ăn nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú mang nhãn hiệu Việt Hoa của Công ty LDHH thức ăn thủy sản Việt Hoa và các loại thuốc thuỷ sản. Do nuôi tôm không hiệu quả nên ông I và bà L không thanh toán nợ cho ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C). Đến ngày 15/7/2020, bà L có ký tên vào bảng đối chiếu công nợ xác nhận còn nợ ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) số tiền 205.668.000 đồng và ông I cũng thừa nhận hiện nay còn nợ ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) số tiền 205.668.000 đồng.

Việc ông I xác định ông I và bà L có ký tên vào hợp đồng mua bán và thừa nhận còn nợ và đồng ý thanh toán cho ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) số tiền mua thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản là 205.668.000 đồng. Đây là tình tiết, sự kiện được đồng bị đơn ông I thừa nhận nên ông B (là chủ Hộ kinh doanh C) không phải chứng minh, theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định giữa ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) với ông I, bà L có giao dịch mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản với nhau. Từ đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) đối với ông I và bà L; cần buộc ông I và bà L có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ là 205.668.000 đồng cho ông B (Là chủ Hộ Kinh doanh C). Tuy nhiên, ông I đồng ý trả nợ nhưng yêu cầu trả mỗi năm 2.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên của ông I không thuộc thẩm quyền của Toà án. Về phương thức trả nợ và thời hạn thanh toán, ông B (Là Hộ kinh doanh C) và ông I, bà L sẽ tự thỏa thuận giai đoạn thi hành án.

Ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) không yêu cầu ông I và L trả tiền lãi đối với số tiền còn nợ là 205.668.000 đồng và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu khởi kiện của ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) đối với ông I, bà L được Toà án chấp nhận toàn bộ nên ông I và bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải thanh toán cho ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) là 10.283.400 đồng (205.668.000 đồng x 5%) theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 5.141.700 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000822 ngày 26/01/2022 được hoàn lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Bạc Liêu.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 430, 440, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 24 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) đối với ông I và bà L về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.

2. Buộc ông I và bà L có nghĩa vụ thanh toán cho ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) số tiền 205.668.000 đồng (Hai trăm lẻ năm triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

3. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông I và bà L phải nộp 10.283.400 đồng (Mười triệu hai trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Bạc Liêu.

Ông B (Là chủ Hộ kinh doanh C) đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 5.141.700 đồng (Năm triệu một trăm bốn mươi một nghìn bảy trăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000822 ngày 26/01/2022 được hoàn lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Bạc Liêu.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ