vanban.org

Bản án 26/2022/DS-PT — Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...

TAND tỉnh Hưng Yên Tuyên án 29/08/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không nhận chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H1.

Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị H1. đòi ông Trần Văn L1. trả 70m2 đất trồng cây hàng năm (ruộng) đo thực tế diện tích 34,8m2 vị trí phía Bắc giáp đất ông L1. kích thước 11.78m, phía Đông giáp đất ông L1. đã trả (đất Ủy ban nhân dân xã B.K quản lý, không tranh chấp) kích thước (263+7.76+3.34)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "Hồng - Lực"
  • Tòa quyết gì? Không nhận chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H1.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/DS-PT
Ngày 29 - 8 - 2022
V/v tranh chấp đòi quyền sử
dụng đất trồng cây hàng năm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Tú

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Hữu Tăng

Ông Phạm Trung Thực

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thành, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2022/TLPT-DS ngày 31 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp “đòi quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm”

Do bản án Dân sự sơ thẩm số 03/2022/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố H.Y, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXXPT-DS ngày 27 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H1., sinh năm 1965; Địa chỉ: thôn T.T, xã B.K, thành phố H.Y, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”

- Bị đơn: Ông Trần Văn L1., sinh năm 1962; Địa chỉ: thôn T.T, xã B.K, thành phố H.Y, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị T1., sinh năm 1964; Địa chỉ: thôn T.T, xã B.K, thành phố H.Y, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn L1., sinh năm 1962; Địa chỉ: thôn T.T, xã B.K, thành phố H.Y, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”

2. Ủy ban nhân dân xã B.K, thành phố H.Y, tỉnh Hưng Yên;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quang H2., Công chức địa chính xã B.K, thành phố H.Y, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”

- Người làm chứng:

1. Ông Lê Quý T2., sinh năm 1960; “vắng mặt”

2. Bà Lê Thị X1., sinh năm 1964; “vắng mặt

3. Ông Lê Đức H3., sinh năm 1942; “vắng mặt”

4. Bà Nguyễn Thị T3., sinh năm 1944; “vắng mặt”

5. Bà Mai Thị D1., sinh năm 1945; “vắng mặt”

6. Bà Lưu Thị C1., sinh năm 1954; “vắng mặt”

7. Ông Lê Xuân C2., nguyên phó thôn T.T, xã B.K; “vắng mặt”

8. Ông Lê Xuân C3., Trưởng thôn T.T, xã B.K; “vắng mặt”

Đều địa chỉ: thôn T.T, xã B.K, thành phố H.Y, tỉnh Hưng Yên;

Người đại diện theo ủy quyền của ông T2., bà X1.: Ông Trần Văn L1., sinh năm 1962; Địa chỉ: thôn T.T, xã B.K, thành phố H.Y, tỉnh Hưng Yên (Văn bản ủy quyền ngày 06 tháng 12 năm 2021); “có mặt”

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị H1.; “có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 15 tháng 6 năm 2015 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị H1. trình bày: Thực hiện Nghị quyết số 03/NQ-TU ngày 28/4/1992 của Tỉnh ủy Hải Hưng, địa phương có giao cho gia đình cụ Trần Thủ Đ. 12 mảnh ruộng ngoài đồng có tên phân biệt của các thửa khác nhau. Trong đó có mảnh ruộng ở cột đèn Ao Đàng diện tích 137m2 được thể hiện ở tờ giải thửa có chữ ký của bà Trần Thị H1. và ở bìa đỏ cũng có đủ 12 mảnh ở ngoài đồng trùng với diện tích mà địa phương đã giao cho gia đình mang tên cụ Trần Thủ Đ. do ông Nguyễn Văn Thắng chủ tịch huyện Kim Động ký và đóng dấu. Mảnh ruộng có vị trí: Phía Nam giáp đường 61, phía Đông giáp ruộng nhà bà Hóa nay anh Biên đang sử dụng, phía Đông Bắc giáp ruộng nhà chị Xuân nay gia đình ông L1. đang sử dụng, phía Bắc giáp ruộng gia đình ông L1. và phía Tây giáp ruộng nhà ông H3. (Dư) nay bà Sáng sử dụng. Thửa đất này năm 2014 được ông Nguyễn Văn Tuyển trưởng thôn, chỉ đạo ông Lê Văn Chiến phó thôn lúc đó trồng 02 cây cột điện mới và chi trả cho gia đình cụ Đ. 2.650.000 đồng tiền đền bù vì trồng trên đất 03 của gia đình cụ Đ. đang canh tác. Gia đình cụ Đ. đã canh tác tại thửa ruộng diện tích 137m2 tại cột đèn Ao Đàng được những người có thửa ruộng liền kề là ông H3., anh Dũng (con bà Hóa), bà Xuân, bà Sáng và ông C2. phó thôn xác nhận. Sau khi ông L1. đổi ruộng cho vợ chồng bà X1., ông L1. đã đến hỏi làm thuê ruộng nên gia đình đã thống nhất cho ông L1. làm thuê ruộng nhưng hai bên không lập văn bản vì ông L1. là cháu trong dòng họ Trần. Ông L1. đã trả sản lượng đến năm 2005 thì không trả nên gia đình cụ Đ. đã cử bà trực tiếp gặp ông L1. trao đổi thì ông L1. đã trả cho gia đình cụ Đ. 67m2 đất còn lại ông L1. giữ lại làm lối đi vì ông L1. làm nhà trên đất 03. Gia đình đã họp bàn thống nhất cho bà mảnh ruộng cho ông L1. thuê nên bà khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn L1. phải trả 70m2 đất đang chiếm giữ, trị giá 50.000.000 đồng.

Bị đơn ông Trần Văn L1. trình bầy: Trước đây mảnh ruộng nhà ông hiện đang canh tác giáp một đoạn mương thoát nước của tập thể. Khi cải tạo lại đường 61 năm 2012, đơn vị thi công đã lấp đoạn mương đó để mở rộng đường nên chỉ còn diện tích lưu không từ ruộng nhà ông tới đường. Năm 1993 chia lại ruộng (Dồn ô đổi thửa) gia đình ông được chia 01 sào 07 miếng giáp mương nước sau đó đến đường 61 do không có lối đi vào canh tác nên ông đã lấp một đoạn mương cạnh cống thoát nước cũ của đường 61 diện tích khoảng 12m2 (dài 4m, rộng 3m) để lấy lối đi vào canh tác, diện tích còn lại từ ruộng nhà ông tới đường 61 chưa ai sử dụng. Ông L1. không bao giờ thuê ruộng của cụ Đ., theo ông được biết và qua hai lần giải quyết tại xã diện tích đất bà H1. tranh chấp theo bản đồ 299 (trước khi cải tạo đường 61) là mương nước do Ủy ban nhân dân xã quản lý và trên sổ chia ruộng (giấy chứng nhận) do Ủy ban nhân dân huyện Kim Động cấp diện tích số thửa đất nhà bà H1. được chia ở vị trí khác nên ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H1..

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị T1. trình bầy: Nhất trí với quan điểm của chông là ông L1. và xác định diện tích đất bà H1. tranh chấp là mương thoát nước thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân xã B.K. Gia đình bà được chia ruộng thửa số 85 phía Đông giáp đất nhà ông T2., bà X1.; phía Tây giáp đất gia đình nhà ông Đằng, bà Loan; phía Nam giáp mương nước thoát nước, cạnh đường 61. Thửa đất số 78/6 gia đình cụ Trần Thủ Đ. (bà H1.) được chia ruộng tại thửa số 78/6 ở phía Bắc thửa đất 85 của gia đình bà.

Ủy ban nhân dân xã B.K, thành phố H.Y trình bầy: Theo bản đồ 299 phần đất tranh chấp giữa bà H1. và ông L1. giáp thửa số 85, tờ bản đồ số 01 là lề đường 61 (Mương nước cạnh đường). Theo bản đồ 2005 phần đất tranh chấp giữa bà H1. và ông L1. thể hiện là mương nước do UBND xã B.K quản lý, giáp thửa đất số 419, tờ bản đồ số 7, diện tích 384m2 mang tên ông L1. phần hiện ông L1. đang sử dụng làm lối đi vào ruộng của gia đình ông L1.. Do đó diện tích đất bà Trần Thị H1. khởi kiện yêu cầu ông L1. phải trả là mương nước do UBND xã B.K quản lý không phải là thửa đất chia cho cụ Trần Thủ Đ.. Thửa đất 78/6 tờ bản đồ số 01 diện tích 137m2 cấp cho hộ cụ Trần Thủ Đ. theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0260/QSDĐ-BK-KĐ ngày 31/5/1999, không phải nằm ở vị trí mà bà Trần Thị H1. đang yêu cầu ông L1. phải trả mà nằm ở vị trí phía Bắc của thửa số 85 vị trí ông L1. đang sử dụng. Quá trình giải quyết đơn của cụ Trần Thủ Đ. và bà Trần Thị H1., UBND xã B.K đã nhiều lần thông báo diện tích đất cụ Đ., bà H1. nhận là đất của gia đình thuộc loại đất Mương đối tượng quản lý là UBND xã B.K.

- Người làm chứng:

Bà Lê Thị X1. trình bầy: Sau khi được chia ruộng theo chỉ thị số 03 gia đình bà đã đổi 0,959 sào đất nông nghiệp vị trí phía Nam giáp bờ mương thoát nước cạnh đường 61; phía Tây giáp đất của gia đình ông Trần Văn L1.; phía Đông giáp đất gia đình bà Hóa, nhà Thành Dậu, gia đình nhà Bình Hoàng và phía Bắc giáp đất gia đình ông Trần Văn L1. để lấy ruộng của gia đình ông L1. ở cánh đồng Bún. Khi đổi ruộng bà chỉ biết phía Nam giáp bờ mương nước rồi mới đến mương nước (Bờ mương rộng khoảng 01 m), mương nước giáp đường 61.

Ông Lê Đức H3. nguyên là trưởng thôn T.T năm 1989 trình bầy: Từ khoảng năm 1979 gia đình nhà ông có được thôn giao cho một rãnh nước để tăng gia trồng rau, diện tích bao nhiêu ông không nhớ, nhà ông Độ cũng được giao cạnh nhà ông cũng là mương nước để tăng gia trồng rau. Sau năm 1993 khi chia lại ruộng theo nghị quyết số 03 thì gia đình ông Độ có được chia ở vị trí đó hay không thì ông không nắm được. Vị trí thửa đất của gia đình ông giáp nhà ông Độ năm 1993 thì gia đình ông không được chia cũng không có trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bà Lưu Thị C1. trình bầy: Gia đình được chia ruộng tại thửa số 78/2 tại khu vực Lõng Si giáp đất nhà ông Tính, bà Vân và nhiều gia đình khác. Bà được biết cạnh đường 61 có giáp một mương nước thoát nước của thôn T.T và có 01 cột điện cao thế.

Bà Nguyễn Thị T3. trình bầy: Gia đình được chia đất tại cánh đồng Lõng Si phía Bắc giáp đất nhà ông Thành, bà D1., phía Nam giáp đất nhà bà Hoàn, ông Bình. Bà biết cạnh đường 61 có giáp một mương nước thoát nước của thôn T.T ra đền Tân La.

Bà Mai Thị D1. trình bầy: Bà được biết nhà bà Hóa được chia ruộng giáp đường 61, có mương nước. Tiếp theo đó tại thửa số 78 có chia đất cho một số gia đình nữa mới đến nhà bà. Đất của gia đình bà phía Bắc giáp đất nhà ông Cử, phía Nam giáp đất nhà ông Lại, còn những nhà ai được chia ruộng ở khu vực đấy bà không nắm được.

Ông Lê Xuân C3. trưởng thôn T.T trình bầy: Ông làm trưởng thôn T.T từ năm 2002 đến nay, ông được biết trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Trần Thủ Đ. được chia tại thửa số 78/6 ở khu vực Lõng Si (Đống Si), còn diện tích đang có tranh chấp giữa bà H1. và ông L1. là mương thoát nước giáp đường 61 và giáp bên đất gia đình ông L1.. Sau này đã san lấp mương nước. Việc chia ruộng trước đây thì ông không nắm được vì năm 2002 ông mới làm trưởng thôn.

Ông Lê Xuân C2. nguyên là phó thôn T.T trình bầy: Khoảng năm 2012- 2013 bên Điện lực có đến làm việc để chôn cột điện hạ thế, do có hai cột điện trồng vào ruộng nhà cụ Đ. nên ông đã nhận tiền đền bù hộ gia đình cụ Đ. và đã đưa cho bà Trần Thị H1. là con gái ông Độ 2.650.000 đồng. Khi nhận tiền của điện lực thì không có biên lai chứng từ gì cả mà chỉ có ký nhận vào danh sách nhận tiền.

Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kim động và Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố H.Y không cung cấp được hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình cụ Trần Thủ Đ..

Chi nhánh Điện lực huyện Kim Động cung cấp: Năm 2014 Công ty điện lực Hưng Yên có thực hiện sửa chữa lớn cải tạo đường dây 35KV Hiệp Cường I - Kim Động theo quyết định số 368/QĐ-PCHY ngày 19/02/2014 của Công ty điện lực Hưng Yên về việc triển khai thi công danh mục sửa chữa lớn năm 2014, trong đó có thay thế 02 vị trí cột cầu dao cũ bằng cột mới tại thôn T.T, xã B.K (Vị trí cột mới trồng trong hành lang tuyến đường dây hiện có và sát với vị trí cột cũ, thu hồi cột cũ). Hồ sơ công trình điện không ghi nhận có đền bù đất tại vị trí cột điện trên.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định tổng diện tích đất tranh chấp theo bà H1. chỉ là 110,3m2 có các cạnh phía Bắc giáp đất ông L1. kích thước (11,78+10,09)m, phía Nam giáp đường 61 kích thước 21,67m, phía Đông giáp đất ông Biên kích thước 4,8m và phía Tây giáp đất ông Đằng kích thước 4,56m.

Trong tổng diện tích trên bà H1. trình bầy là ông L1. đã trả 67m2 hiện đang chiếm giữ của gia đình bà 70m2 và chỉ mốc giới phần đất đang có tranh chấp, Tòa án tiến hành đo đạc thẩm định tại chỗ thực tế phần đất nông nghiệp đang tranh chấp có diện tích là 34,8m2 vị trí phía Bắc giáp đất ông L1. kích thước 11,78m, phía Nam giáp đường 61 kích thước 4,01m và giáp đất mương nước kích thước 7,76m (Phần đất không có tranh chấp theo bà H1. ông L1. đã trả), phía Đông giáp đất mương nước kích thước (3,34+2,63)m ( Phần đất không có tranh chấp theo bà H1. nói là ông L1. đã trả) và phía Tây giáp đất ông Đằng kích thước 4,56m.

Trên phần đất có tranh chấp có 01 bức tường ông L1. xây năm 2004 dài 7,76m, chiều cao trung bình 1,4m và 01 lán cọc tre lợp Bluximăng, cùng 02 trụ cổng kích thước 0,46m x 0,34m và 02 cánh cửa sắt rộng 2,26m, chiều cao 2,4m.

Hội đồng định giá xác định đất nông nghiệp bà H1. yêu cầu ông L1. phải trả giá trị 28.000.000 đồng (70m2 x 400.000đ/ 01m2)

Về vật kiến trúc gồm tường ông L1. xây và một số cây chuối tiêu, sắn trên đất các đương sự không yêu cầu định giá do vậy HĐĐG không tiến hành định giá.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 03/2022/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố H.Y, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 47, Điều 157, Điều 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H1. về việc yêu cầu ông Trần Văn L1. phải trả 70m2 đất nông nghiệp.

Bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Ngày 29 tháng 4 năm 2022 nguyên đơn bà Trần Thị H1. kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm buộc ông Trần Văn L1. trả lại diện tích đất đang sử dụng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Bị đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện vì đất tranh chấp là đất thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân xã B.K.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về đường lối giải quyết vụ án: Không có căn cứ xác định diện tích đất gia đình bà H1. được chia ở vị trí tranh chấp, theo bản đồ đất tranh chấp thuộc quản lý của UBND xã B.K nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Dân sự bác kháng cáo của bà H1. và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ, lời trình bầy của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1. đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai và đã ủy quyền cho ông L1., đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân xã B.K có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Trần Thị H1. yêu cầu ông Trần Văn L1. trả 70m2 đất trồng cây hàng năm cho thuê nhưng không xuất trình được chứng cứ về việc cho thuê đất nên theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án căn cứ vào các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ việc để giải quyết.

Theo chứng cứ do bà H1. xuất trình thì ông Nguyễn Văn Đằng, ông Lê Đức H3., bà Lê Thị X1., ông Nguyễn Văn Dũng, và bà Lê Thị Sáng chỉ xác nhận có ruộng giáp với ruộng của cụ Đ., không xác định vị trí ruộng của cụ Đ. và ông Lê Văn Chiến xác nhận trồng 02 cột điện tại ruộng 03 của cụ Đ. và Điện lực đã đền bù số tiền 2.650.000 đồng nhưng không có hoá đơn, chứng từ trong khi theo tài liệu do Tòa án thu thập ông H3. trình bày “Thôn có giao cho gia đình ông cùng gia đình cụ Đ. một rãnh nước để tăng gia trồng rau. Năm 1993 khi chia lại ruộng gia đình cụ Đ. có được chia ở đó không thì ông không nắm được còn vị trí đất tăng gia của ông giáp nhà cụ Đ., thì ông không được chia”, bà X1. người đổi đất cho ông L1. “Khi đổi ruộng bà chỉ biết phía Nam giáp bờ mương nước rồi mới đến mương nước (Bờ mương rộng khoảng 01 m), mương nước giáp đường 61” và Điện lực huyện Kim Động cung cấp không có ghi nhận có đền bù đất tại vị trí trên cùng kết quả, xác minh giải quyết của Uỷ ban nhân dân xã B.K đều xác định thửa đất đang tranh chấp là đất thủy lợi thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân xã B.K phù hợp với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đất tranh chấp diện tích 110,3m2, đất yêu cầu ông L1. trả diện tích 34,8m2 đã có căn cứ xác định thửa đất số 78/6, tờ bản đồ số 1, diện tích 137.0m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 07648 do Ủy ban nhân dân huyện Kim Động cấp ngày 31 tháng 5 năm 1999 không thuộc vị trí bà H1. yêu cầu ông L1. trả nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H1. là đúng pháp luật do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà H1..

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa phù hợp pháp luật được chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nguyên đơn kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không nhận chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H1., giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 03/2022/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố H.Y, tỉnh Hưng Yên.

Căn cứ khoản 1 Điều 6, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí, xử:

Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị H1. đòi ông Trần Văn L1. trả 70m2 đất trồng cây hàng năm (ruộng) đo thực tế diện tích 34,8m2 vị trí phía Bắc giáp đất ông L1. kích thước 11.78m, phía Đông giáp đất ông L1. đã trả (đất Ủy ban nhân dân xã B.K quản lý, không tranh chấp) kích thước (263+7.76+3.34)m, phía Nam giáp đường 61 kích thước 4,01m và phía Tây giáp đất ông Đằng kích thước 4,56m.

Án phí: Bà Trần Thị H1. phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai số 0001186 ngày 04 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.Y, bà H1. đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đông xét xử phúc thẩm không giải quyết, có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ