vanban.org

Bản án 26/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Đình T (H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Đình T (H) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ và tạm giam 12/8/2020. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Đình T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Đình T (H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM MỸ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HSST
Ngày: 17/3/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Trung

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Đức Dũng

2/ Bà Lại Thị Thúy Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Dƣơng Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2021/TLST - HS ngày 08/02/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2021/QĐXXST - HS ngày 05/3/2021 đối với bị cáo:

Ngô Đình T (tên gọi khác: H), sinh năm 1994, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp 6, xã XT, huyện CM, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: ấp 4, xã XT, huyện CM, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 8/12; con ông: Ngô Văn H1, sinh năm: 1955 (còn sống) và bà Phạm Thị H2, sinh năm 1955 (còn sống); có vợ tên Phú Thị Lữ N, sinh năm 1991 và có 01 người con sinh năm 2013; tiền sự: Không;

Tiền án:

+ Ngày 21/4/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 16/01/2017.

+ Ngày 15/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với bản án số 50/2018/HSST ngày 10/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 năm 06 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 26/9/2020.

Bị cáo bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 18/12/2020 cho đến nay.

- 1 -

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: anh Phan Văn T1, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp 4, xã XT, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1955 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp 4, xã XT, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.

2. Ông Ngô Văn H1, sinh năm: 1949 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp 4, xã XT, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.

3. Bà Nguyễn Thị Hoài T2, sinh năm: 1978 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp 4, xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Đình T là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định.

Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1955, ngụ tại ấp 4, xã XT, huyện CM, tỉnh Đồng Nai và Ngô Đình T là mẹ con ruột nhưng không ở chung nhà, bà H2 ở chung với con gái là Ngô Thị Xuân D, sinh 1984 và con rể là Phan Văn T1, sinh 1988, cùng ngụ ấp 4, xã XT, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/12/2020, bị cáo biết bà H2 và vợ chồng anh T1 không có ở nhà, bị cáo đã vào nhà lén lút bắt trộm 08 con gà ta gồm: 02 con gà trống và 06 con gà mái lông màu vàng đen. Sau đó, bị cáo dùng dây cột chân 08 con gà trên lại với nhau, rồi dùng xe mô tô biển số 60T5-4362 của Ngô Văn H1 (là cha ruột của bị cáo) chở số gà trộm được bán cho bà Nguyễn Thị Hoài T2, sinh năm 1978, ngụ tại ấp 4, xã XT, huyện CM, tỉnh Đồng Nai được 640.000 đồng. Khi mua gà từ bị cáo thì bà Tâm không biết đây là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bà H2 phát hiện mất gà nên hỏi bị cáo, bị cáo thừa nhận trộm số gà trên và đưa số tiền 640.000 đồng bị cáo vừa bán gà cho bà H2. Do bức xúc việc bị cáo nghiện ma túy, thường quậy phá, gây phiền hà cho gia đình, gây dư luận xấu ở địa phương nên anh T1 đã trình báo sự việc đến Công an xã XT, đến ngày 18/12/2020, bị cáo bị bắt giữ xử lý.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐG ngày 10/11/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Mỹ kết luận 02 con gà trống, 06 con gà mái, màu vàng đen cân nặng 12 kg gà, loại gà thường, có tổng giá trị là 690.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

- 08 con gà, (loại gà thường, gồm 02 con gà trống lông màu vàng đen và 06 con gà mái lông màu vàng đen). Đã trả cho bị hại là anh Phan Văn T1.

- 2 -

- Số tiền 640.000 đồng, đã trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Hoài T2.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Văn T1 đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKSCM ngày 08/02/2021, Viện Kiểm sát nhân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố bị cáo Ngô Đình T (H) về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Ngô Đình T mức án từ 06 đến 08 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, không ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Đình T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/12/2020, bị cáo Tùng có hành vi lén lút vào nhà bà Phạm Thị H2 bắt trộm 02 con gà trống và 06 con gà mái lông màu vàng đen. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận của Hội đồng định gia tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Mỹ là 690.000 đồng. Tuy giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích cụ thể: Ngày 21/4/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 16/01/2017. Đến ngày 15/12/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 01 năm tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 50/2018/HSST ngày 10/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 năm 06 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 26/9/2020. Do đó, hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét hành vi của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là công dân đã trưởng thành, đã 03 lần bị Tòa án xét xử về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lo tu chí, rèn luyện bản thân, mà để có tiền sử dụng ma túy bị cáo đã chiếm đoạt tài sản hợp

- 3 -

pháp của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng các tiền án này đã áp dụng là tình tiết định tội nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận xét và đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: anh Phan Văn T1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

[5] Về vật chứng:

- 08 con gà (loại gà thường, gồm 02 con gà trống lông màu vàng đen và 06 con gà mái lông màu vàng đen). Đã trả cho bị hại là anh Phan Văn T1 là phù hợp.

- Số tiền 640.000 đồng, đã trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Hoài T2 là phù hợp.

[6] Đối với bà Nguyễn Thị Hoài T2 khi mua gà của bị cáo Tùng không biết số gà này do phạm tội mà có nên không phạm tội.

[7] Đối với ông Ngô Văn H1 khi bị cáo lấy xe của ông H1 chở gà đi bán, ông H1 không biết nên không phạm tội.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Ngô Đình T (H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Đình T (H) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ và tạm giam 12/8/2020.

2. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- 4 -

3. Bị cáo, ông H1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể, từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ