vanban.org

Bản án 26/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 14/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 1 Điều 191, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của B luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn uốc H phạm “T i tàng trữ hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Nguyễn uốc H hình phạt tiền, mức phạt tiền là 60.000.000đ (bằng chữ: Sáu mươi triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc H phạm “Tội tàng trữ hàng cấm” - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 191, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của B luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HS-ST
Ngày: 14-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Chí Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Thanh Học.

Bà Lâm Lệ Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Văn Ni – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 10 năm 2021, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2021/TLST-HS, ngày 26 tháng 8 năm 2021 theo uy t định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2021/ ĐXXST-HS, ngày 04 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc H. Sinh ngày 10/4/1994 tại Kiên Giang. Nơi đăng ký HKTT: Tổ N, ấp V, xã S, huyện H2, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Tổ 1, Khu phố X, phường T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình đ học vấn: 12/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H3 và bà Nguyễn Thị D; chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: có 01 tiền sự về hành vi “Vận chuyển hàng cấm” bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) H, tỉnh Kiên Giang ra uy t định xử phạt vi phạm hành chính ngày 09/5/2017 với số tiền 40.000.000 đồng (chưa chấp hành n p phạt); nhân thân: xấu; bị cáo được tại ngoại. (có mặt)

Người làm chứng: Ông Lâm uốc T. (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo n i dung bản Cáo trạng số: 27/CT-VKSHT ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang đã truy tố Nguyễn uốc H về hành vi tàng trữ hàng cấm như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 28/6/2021, lực lượng C ng an thành phố H ti n hành kiểm tra nhà trọ do ng Lâm uốc T, thu c Tổ 1, Khu phố X, phường T, thành phố H phát hiện tại phòng trọ số 3 do Nguyễn uốc H đang thuê ở, có cất giấu 2.478 (Hai nghìn bốn trăm bảy mươi tám) bao thuốc lá đi u nhập lậu hiệu HERO, đã ti n hành lập Biên bản bắt người phạm t i quả tang đối với Nguyễn uốc H về hành vi “Tàng trữ hàng cấm”.

Theo lời khai của bị can Nguyễn uốc H, nguồn gốc 2.478 bao thuốc lá đi u nêu trên là của m t người phụ nữ khoảng trên 50 tuổi, thường gọi là “Ý Hai” (kh ng rõ họ, tên, địa chỉ) được m t người đàn ng (kh ng rõ họ tên, địa chỉ) dùng xe máy vận chuyển đ n phòng trọ giao cho H cất giấu với tiền c ng là 200.000 đồng/ngày.

Vật chứng trong vụ án: 2.478 (Hai nghìn bốn trăm bảy mươi tám) bao thuốc lá đi u nhập lậu nhãn hiệu HERO. Vật chứng nêu trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, bị can đã nhận giữ số thuốc lá đi u nhập lậu 02 (hai) lần từ “Ý Hai” vào ngày 26/6/2021 và ngày 27/6/2021, đã nhận được số tiền c ng là 400.000 đồng.

Đối với người phụ nữ bị can gọi là “Ý Hai” và người đàn ông giao thuốc lá đi u nhập lậu cho Nguyễn uốc H cất giấu, qua điều tra kh ng xác định nhân thân, lại lịch nên kh ng có căn cứ để xử lý. Đối với hai lần “Tàng trữ hàng cấm” vào ngày 26/6/2021 và ngày 27/6/2021, qua điều tra bị can kh ng xác định được số lượng nên kh ng có căn cứ để khởi tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị H i đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn uốc H phạm T i tàng trữ hàng cấm.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của B luật Hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt tiền từ 60.000.000 đồng đ n 80.000.000 đồng.

- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy theo quy định.

- Về biện pháp tư pháp: Bu c bị cáo n p lại số tiền 400.000 đồng tiền thu lợi bất chính sung vào c ng quỹ Nhà nước theo quy định.

- Về án phí: Bu c bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và kh ng tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm t i như Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và chứng minh tại phiên tòa, nên H i đồng xét xử có đủ cơ sở k t luận: Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 28/6/2021, lực lượng C ng an thành phố H ti n hành kiểm tra nhà trọ của ng Lâm uốc T thu c tổ 1, Khu phố X, phường T, thành phố H, phát hiện tại phòng trọ số 3, do Nguyễn uốc H thuê ở, có cất giấu 2.478 (hai nghìn bốn trăm bảy mươi tám) bao thuốc lá đi u nhập lậu hiệu HERO đã ti n hành lập Biên bản bắt người phạm t i quả tang đối với H về t i “Tàng trữ hàng cấm”. Hành vi của bị cáo H đã cấu thành T i tàng trữ hàng cấm được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 của B luật Hình sự, cụ thể:

“Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít; b) Thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao; ...

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. …”.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về t i danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức đ phạm t i của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, trực ti p xâm phạm đ n trật tự quản lý kinh t của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại đối với thuốc lá đi u nhập lậu, là loại hàng cấm. Bị cáo hoàn toàn có khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì hám lợi mà bị cáo bất chấp pháp luật, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển hàng cấm, bị cáo chưa chấp hành n p tiền phạt mà ti p tục thực hiện hành vi tàng trữ hàng cấm. Hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đ n tình hình an ninh, trật tự an toàn xã h i tại địa phương.

Xét về nhân thân: Tài liệu về lý lịch thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, tuy chưa từng có tiền án nhưng bị cáo có 01 tiền sự chưa chấp hành quy t định xử phạt vi phạm hành chính.

Về tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo kh ng có tình ti t tăng nặng nào. Về các tình ti t giảm nhẹ: Bị cáo phạm t i lần đầu và thu c trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi vi phạm. Vì vậy, cần xem xét, áp dụng các tình ti t giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của B luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt: Xét thấy cần áp dụng m t mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo sao cho vừa đảm bảo tính giáo dục, vừa răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo quyền được hưởng các tình ti t giảm nhẹ của bị cáo. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo hình phạt tiền từ 60.000.000 đồng đ n 80.000.000 đồng. Trong thảo luận nghị án, H i đồng xét xử thống nhất áp dụng hình phạt tiền theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và phù hợp với tính chất, mức đ phạm t i của bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của B luật Hình sự và Điều 106 của B luật Tố tụng hình sự: Cần tịch thu tiêu hủy: 2.478 (Hai nghìn bốn trăm bảy mươi tám) bao thuốc lá đi u nhập lậu nhãn hiệu HERO.

Về biện pháp tư pháp: Bu c bị cáo n p lại số tiền 400.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc nhận giữ giùm hàng cấm để sung vào c ng quỹ Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của B luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quy t số 326/2016/UBTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ uốc h i: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quy t định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy định của B luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 1 Điều 191, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của B luật Hình sự;

- Điều 106 và Điều 136 của B luật Tố tụng hình sự;

- Điều 23 của Nghị quy t số 326/2016/UBTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ uốc h i;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn uốc H phạm “T i tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn uốc H hình phạt tiền, mức phạt tiền là 60.000.000đ (bằng chữ: Sáu mươi triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 2.478 (Hai nghìn bốn trăm bảy mươi tám) bao thuốc lá đi u nhập lậu nhãn hiệu HERO theo uy t định chuyển vật chứng số 17/ Đ-VKSHT ngày 26/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2021 giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra – C ng an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.

3. Về biện pháp tư pháp: Bu c bị cáo n p lại số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) là tiền thu lợi bất chính để sung vào c ng quỹ Nhà nước.

4. Về án phí: Bu c bị cáo n p 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. uyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ